Giải pháp cho nguồn nhân lực công nghệ cao
(VOH) - Theo đánh giá của một số chuyên gia, số tiến sĩ ở Việt Nam có trình độ đạt chuẩn rất thấp, nhất là chuẩn quốc tế, đặc biệt là Việt Nam đang rất thiếu nguồn nhân lực công nghệ cao. Theo lộ trình, ngày 1/7 tới Luật Công nghệ cao có hiệu lực. Thế nhưng cho đến nay, Việt Nam chưa làm chủ bất kỳ công nghệ cốt lõi nào thuộc lĩnh vực công nghệ cao, mà chỉ dừng lại ở mức làm chủ một được một vài công đoạn.
Hiện ở nước ta có 321 trường đại học, cao đẳng có đào tạo các ngành công nghệ cao. Và các ngành công nghệ cao mà Việt Nam đang tập trung đầu tư phát triển là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ tự động hóa và công nghệ liệu mới đang rất thiếu nguồn nhân lực có trình độ cao. Nhưng trên thực tế, con số những sinh viên tại các trường đại học, cao đẳng khi ra trường có thể làm được việc trong những lĩnh vực được đào tạo không nhiều. Ông Nguyễn Văn Lạc - thứ trưởng Bộ Khoa học Công nghệ nhìn nhận:
Chỉ tính riêng ngành công nghệ thông tin, trung bình mỗi năm các trường đại học trong cả nước cung cấp cho cho thị trường 110.000 kỹ sư nhưng chỉ có 10% đáp ứng tốt yêu cầu công việc. Điều này dẫn đến tình trạng, mặc dù thiếu nhân lực nhưng các doanh nghiệp phần mềm không thể tuyển dụng được ngay số lượng nhân viên như mong muốn. Tương tự, trong lĩnh vực Công nghệ vật liệu, nguồn nhân lực công nghệ cao cũng rơi vào tình trạng “cung không kịp cầu” mặc dù việc đào tạo nhân lực trong lĩnh vực này được triển khai ở hầu hết các trường khoa học-kỹ thuật trên cả nước nhưng số liệu thống kê về số lượng đào tạo cũng chưa được cập nhật đầy đủ.
Việc thiếu nguồn nhân lực công nghệ cao trong lĩnh vực tự động hóa cũng đang diễn ra tình trạng đào tạo không kịp với nhu cầu sử dụng thực tế. Một ví dụ nữa là trong lĩnh vực Công nghệ sinh học (CNSH), hiện nguồn nhân lực CNSH của Việt Nam đang đi sau hàng chục năm so với nhiều nước đang phát triển. Cụ thể, tính đến năm 2007, Việt Nam mới đào tạo được 1.500 công nhân / kỹ sư, 400 thạc sĩ và 90 tiến sĩ về CNSH. Trong lĩnh vực gien thì con số đào tạo cán bộ hoạt động trong lĩnh vục này cũng không quá 10 đầu ngón tay.
Trong khi đó, theo đánh giá của Viện KH-CN Việt Nam, cơ cấu nguồn nhân lục KH-CN của Việt Nam, trong đó có công nghệ cao còn nhiều bất hợp lí. Cụ thể, số lượng nhân lực có trình độ trên đại học trong lĩnh vục KH-CN chỉ chiếm khoảng 10%. Chất lượng của cán bộ KH-CN cũng còn nhiều vấn đề, tỉ lệ cán bộ khoa học làm tốt chuyên môn nghiệp vụ chỉ chiếm khoảng 35%, tỷ lệ cán bộ yếu kém về trình độ năng lực chuyên môn nghiệp vụ là 28%.
Kết quả điểu tra của Bộ KH-CN cho thấy, tiềm lực KH-CN tại 233 đơn vị thuộc các Bộ, ngành trung ương cho thấy tuổi đời của cán bộ có chức danh khoa học khá cao (bình quân 57,2 tuổi) trong đó giáo sư là 59,5 tuổi, phó giáo sư là 56,4 tuổi. Số cán bộ có chức danh khoa học ở độ tuổi dưới 50 chỉ chiếm 12%. Những số liệu trên cho thấy một thực tế đó là nguy cơ thiếu hụt trong đội ngũ cán bộ KH-CN của Việt Nam trong thời gian tới khi mà số cán bộ có trình độ cao hầu hết đã lớn tuổi về nghỉ hưu.
Ngoài ra, hiện, chúng ta có hơn 10.000 tiến sĩ, nhưng theo đánh giá của một số chuyên gia thì số lượng tiến sĩ có trình độ đạt chuẩn quốc tế là rất thấp, số còn lại do nhiều nguyên nhân khác nhau chỉ đạt trình độ thấp, không đạt chuẩn mục quốc tế.
Trước thực trạng rày, theo ông Nguyễn Văn Lạc - Thứ trưởng Bộ Khoa học Công nghệ, để phát triển nguồn nhân lực công nghệ cao, trước hết cần tập trung vào khâu chính sách sử dụng và đào tạo nguồn nhân lực, Nhà nước phải tạo điều kiện để nhân tài sáng tạo và cống hiến, khuyến khích sử dụng nguồn nhân lực nữ trong lĩnh vực Khoa học công nghệ. Thứ hai là chính sách đào tạo cộng với những chế độ ưu đãi. Ngoài ra thu hút Việt kiều về nước phục vụ trong lĩnh vực này cũng hết sức quan trọng, ông nói:
“Đại học của doanh nghiệp” là một trong những giải pháp được mà Tiến sĩ Nguyễn Văn Phúc - trưởng ban đề án Đại học Quốc tế Miền Đông - BECAMEX đóng góp trong hội thảo. Biến trường Đại học là nơi đào tạo nguồn nhân lực sẵn sàng phục vụ cho doanh nghiệp sau khi ra trường. Do đó, kết hợp giữa Đại học và doanh nghiệp là một cứu cánh. _~băn~o 28s- 100% doanh nghiệp. . . . . . . . Ã vốn của doanh nghiệp _ Do vậy, việc cần làm hiện nay là chúng ta phải nghiên cứu hiện trạng nhu cầu nhân lực công nghệ cao trong các doanh nghiệp công nghệ cao, các khu công nghệ cao, các tổ chức nghiên cứu và phát triển thuộc lĩnh vực công nghệ cao, đánh giá lại những mục tiêu đã đề ra. Sắp tới Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ có chương trình cấp quốc gia về đào tạo nguồn nhân lực công nghệ cao. Riêng chương trình đào tạo 20.000 tiến sĩ, Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ dành một số lượng kinh phí đầu tư thích đáng cho việc đào tạo nguồn nhân lực công nghệ cao. Phương châm của Bộ là tiếp cận nhanh và phổ biến rộng rãi những thành tựu khoa học công nghệ của thế giới đễ đào tạo nguồn nhân lực công nghệ cao. Trong đó, Việt Nam sẽ hình thành những chuỗi các phòng thí nghiệm công nghệ cao.
Những giải pháp vừa nêu trên cho thấy khả năng giải bài toán nguồn nhân lực công nghệ cao hiện nay. Nhưng đáp số của nó lại phụ thuộc rất nhiều vào tính tích cực và đột phá của các kế hoạch đào tạo cụ thể của từng trường cũng như của toàn hệ thống giáo dục nước nhà./.
BT
