Chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo đang đặt ra những yêu cầu mới đối với quản trị nguồn nhân lực và hoàn thiện chính sách pháp luật. Đó là nhận định chung của các chuyên gia tại hội thảo khoa học cấp quốc gia “Quản trị nguồn nhân lực và chính sách pháp luật cho phát triển bền vững tại Việt Nam”, được tổ chức vào sáng 6/11. Cùng dự có Phó Bí thư Thành ủy TPHCM Nguyễn Sinh Nhật Tân.
Hội thảo do Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TPHCM, Cơ quan thường trực phía Nam - Tạp chí Cộng sản và Trường Đại học Luật TPHCM đồng tổ chức.
Phát biểu tại hội thảo, PGS.TS Lưu Văn Quyết, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn (Đại học Quốc gia TPHCM) nhấn mạnh: “Phát triển bền vững không chỉ là câu chuyện của công nghệ hay nguồn lực tài chính, mà trước hết là câu chuyện về con người và chất lượng thể chế. Công nghệ càng tạo ra cơ hội nhưng con người quyết định khả năng làm chủ công nghệ, nguồn lực tạo ra động lực nhưng thể chế hiệu quả, minh bạch và công bằng mới đảm bảo những cơ hội phát triển được chuyển hóa thành những giá trị bền vững.”
Hội thảo nhận được 84 bài viết từ gần 50 cơ sở đào tạo, nghiên cứu, quản lý và các doanh nghiệp. Quy mô này đã cho thấy sức hút học thuật rõ nét của chủ đề hội thảo. Đáng chú ý hơn về số lượng, đó là bốn chủ đề chuyên môn về Quản trị nguồn nhân lực trong đổi mới tổ chức; Pháp luật và chính sách trong quản trị nguồn nhân lực; Chuyển đổi xanh và quản trị nguồn nhân lực bền vững; Thể chế và quản trị nguồn nhân lực trong xã hội số.
Nghiên cứu từ các tham luận gửi về đã tập trung làm rõ 3 thách thức lớn, gồm: mâu thuẫn giữa tốc độ công nghệ và sức bền của con người; khoảng cách giữa đột phá thể chế và năng lực thực thi; thách thức của chuyển đổi số và chuyển đổi xanh trong điều kiện giới hạn nguồn lực.
TS. Nguyễn Thị Hảo, Trưởng Khoa Khoa học liên ngành, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn (Đại học Quốc gia TPHCM), nói rõ hơn: “Chúng ta đang sống trong thời đại AI và chuyển đổi số, mở ra những cơ hội to lớn để nâng cao năng suất và hỗ trợ ra quyết định. Tuy nhiên, các nghiên cứu cũng cảnh báo về tình trạng “rạn nứt thầm lặng”, kiệt sức nghề nghiệp, làm thêm giờ vô hình và sự giám sát bằng thuật toán trong quản trị nhân lực. Những hiện tượng này cảnh báo rằng: nếu đổi mới chỉ chạy theo tốc độ và hiệu suất, tổ chức có thể làm suy giảm “hợp đồng tâm lý” - hiểu theo nghĩa là niềm tin, sự kỳ vọng và thấu hiểu giữa các cá nhân trong tổ chức.”
Đề xuất về thể chế và chính sách, TS. Nguyễn Thị Bích, Phó Trưởng khoa Luật Dân sự, Trường Đại học Luật TPHCM cho rằng, pháp luật lao động và chính sách quản trị cần được điều chỉnh để vừa tạo không gian đổi mới sáng tạo, vừa bảo vệ hiệu quả người lao động trước các hình thức việc làm, dữ liệu và công nghệ mới phát sinh hàng ngày.
“Chúng tôi đề xuất cần hoàn thiện pháp luật về xử lý dữ liệu cá nhân của người lao động thông qua các công nghệ, kỹ thuật điện tử, có tính đến đặc trưng của quan hệ lao động chính là sự phụ thuộc của người lao động vào sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động. Sự hoàn thiện này phải đảm bảo nguyên tắc minh bạch, cần thiết và tương xứng trong quá trình xử lý dữ liệu cá nhân của người lao động theo quy định của Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025.”
Nhằm thu hẹp khoảng cách năng lực công chức trong chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, PGS.TS Nguyễn Hoàng Phương, Phó Trưởng khoa Kinh tế - Xã hội và Môi trường, Học viện Chính trị khu vực II, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, đề nghị: “Phải đào tạo theo nhu cầu chứ không còn là đào tạo theo lý thuyết nữa. Chúng ta cần đi thẳng vào những vấn đề thực tế, kèm cặp tại chỗ, gắn kết quả học tập với quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ thì việc học mới hiệu quả. Đồng thời, tổ chức các nhóm hỗ trợ chéo, cải thiện thiết bị và điều kiện việc làm. Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, đó là chăm sóc sức khỏe cho đội ngũ cán bộ công chức.”
Công nghệ hay tài chính chỉ là công cụ, còn con người và thể chế minh bạch mới là gốc rễ của phát triển bền vững. Những đề xuất thực tiễn từ hội thảo được kỳ vọng sẽ sớm trở thành luận cứ khoa học thiết thực, hỗ trợ các cơ quan quản lý và cộng đồng doanh nghiệp kịp thời điều chỉnh chính sách, vừa tối ưu hóa năng suất lao động, vừa gìn giữ giá trị nhân văn và quyền lợi chính đáng của người lao động trong xã hội số.
























