![]() |
| Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Bùi Văn Ga: "Cần có chính sách tương đối đồng bộ hơn, để làm sao sinh viên cử tuyển có những ưu tiên nhất định khi học, ra trường có việc làm" (ảnh: QĐND) |
Tại hội nghị, những bất cập trong chính sách cử tuyển học sinh dân tộc hiện nay được đặt ra là: Đầu vào hệ cử tuyển chưa đúng đối tượng, cơ chế phối hợp giữa các trường và địa phương còn lỏng lẻo, sinh viên hệ cử tuyển tốt nghiệp trở về địa phương không được bố trí việc làm thoả đáng….
Giai đoạn 2007 – 2013, tổng số học sinh được cử tuyển vào các trường hơn 12.800 học sinh, đạt 88% chỉ tiêu. Trong đó, có đến 83% vào đại học, trình độ cao đẳng ít, chỉ chiếm khoảng 16%. Đáng nói, các tỉnh cử đi học không đồng đều ở các lĩnh vực mà tập trung vào các ngành như: y tế chiếm gần 26%, sư phạm 23% và kinh tế hơn 16%. Bên cạnh đó, một số tỉnh đã xét tuyển tỷ lệ học sinh người Kinh cao hơn quy định như tỉnh Lâm Đồng, Đắk Nông…Một số tỉnh đồng bằng sông Cửu Long vì không có người dân tộc đã cử hoàn toàn người Kinh đi học; ngược lại nhiều dân tộc thiểu số trong nhiều năm không có học sinh cử tuyển.
Theo đại diện nhiều
trường, sinh viên hệ cử tuyển sau thời gian 1 năm học dự bị sẽ được học chính
thức và học chung với sinh viên hệ chính quy. Thế nhưng, đa số học lực của các
em chỉ ở mức trung bình, thậm chí có em học lực kém không đáp ứng được chương
trình học. Thạc sĩ Lê Ngọc Tứ, Phó trưởng phòng đào tạo Trường ĐH Sư Phạm TPHCM
kiến nghị: “Về đầu vào, chúng tôi mong muốn các địa phương, các Sở căn cứ vào
học lực cũng như tình hình đội ngũ giáo viên thực tế ở các địa phương đề xuất cử
danh sách sao cho đúng người, đúng đối tượng, để sau này các em được đào tạo có
trình độ tương đối đáp ứng nhu cầu của các địa phương. Chúng ta cũng không lãng
phí việc sử dụng, phân công các em sau khi ra trường”.
Hệ lụy của đầu vào yếu đã dẫn đến tình trạng sinh viên hệ cử tuyển rất vất vả để
ra trường. Tại ĐH Sư Phạm Hà Nội, tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp của khoá 2007 sinh
viên hệ cử tuyển đạt khoảng 90%, khoá 2008 giảm còn 80%. Còn tại ĐH Kinh Tế
TPHCM, Ths Nguyễn Văn Đương, Phó Trưởng phòng đào tạo Trường ĐH Kinh Tế TPHCM
dẫn chứng: năm 2010, tỷ lệ tốt nghiệp sinh viên hệ cử tuyển của trường đạt 75%,
năm 2011 tỷ lệ giảm còn 45%, đến năm 2012 chỉ còn 28% và trong năm 2013 chỉ có
2/44 sinh viên tốt nghiệp đúng hạn. Ths Đương kiến nghị: “Mặc dù chúng tôi có
rất nhiều giải pháp để giúp các em. Mỗi môn học chúng tôi đều có nhóm vừa riêng
vừa chung, tức là nhóm sinh viên cử tuyển chúng tôi gom về một lớp kèm với nhóm
sinh viên dự bị dân tộc để các giảng viên bổ túc thêm. Qua một số năm chúng tôi
thấy không đạt được kết quả bao nhiêu. Vì vậy, tôi nghĩ Bộ cần giải pháp nào đó
để nâng chất đầu vào, hoặc cho học ở trường phù hợp để tránh lãng phí nguồn cử
tuyển này”.
Mặc dù được đào tạo theo địa chỉ sử dụng rất rõ ràng, thế nhưng vấn đề việc làm của sinh viên khi trở về địa phương gặp rất nhiều trở ngại, chỉ khoảng hơn 60% sinh viên được bố trí việc làm. Theo Thứ trưởng Sơn Phước Hoan, Phó chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc, việc giải quyết việc làm cho sinh viên cử tuyển sau khi ra trường thực tế còn gặp nhiều khó khăn vướng mắc. Theo quy định, UBND cấp tỉnh tổ chức tiếp nhận và phân công công tác cho người được cử đi học theo chế độ cử tuyển sau khi tốt nghiệp, tuy nhiên có những trường hợp trở về địa phương không được bố trí công việc với nhiều lý do, trong đó phổ biến là không có chỉ tiêu biên chế. Về vấn đề này, Thứ trưởng Bộ GD-ĐT Bùi Văn Ga cho rằng: “Để nâng cao tỷ lệ sinh viên cử tuyển có thể tìm được việc làm sau khi tốt nghiệp, chúng ta cần có chính sách tương đối đồng bộ hơn, để làm sao họ có những ưu tiên nhất định khi học, ra trường có việc làm”.
Chưa dừng lại ở đó, công tác phối hợp giữa các trường với các địa phương cử người đi học trong việc theo dõi, quản lý, thực hiện chế độ chính sách, thông báo kết quả học tập, thời gian tốt nghiệp….vẫn chưa có sự phối hợp nhịp nhàng. Nhiều địa phương hầu như chỉ gửi danh sách đi học mà không có sự quan tâm đến kết quả học tập của sinh viên khiến cho việc đào tạo, sử dụng nhân lực gặp khó khăn, như ý kiến của TS Nguyễn Văn Trào, Phó Hiệu trưởng ĐH Sư Phạm Hà Nội: “Chúng tôi không biết sau khi ra trường, các em có làm được đúng nghề nghiệp hay không hoặc các em được địa phương cử tuyển đi học có làm được đúng ngành nghề mà mình được học hay không? Hay các em chỉ cần bằng đại học để sau đó tự đi xin việc, làm việc này việc khác. Vì vậy, trước khi có kế hoạch cử tuyển, ngoài chỉ tiêu được Bộ giao, địa phương cần có mối liên kết với các trường để chúng ta có trao đổi hai chiều để kết quả đào tạo được tốt”.
Để việc đào tạo hệ cử tuyển đạt hiệu quả, các địa phương cần chủ động xây dựng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực dân tộc thiểu số theo chế độ cử tuyển với những kế hoạch chiến lược lâu dài, đồng thời rà soát, thống kê các ngành nghề đào tạo, các dân tộc, các địa bàn cần ưu tiên cử tuyển theo tiêu chuẩn quy định. Đặc biệt là cơ chế giải pháp quản lý người học sau tốt nghiệp trở về địa phương được bố trí việc làm. Có như vậy, Nghị định số 134 của Chính phủ về chế độ cử tuyển học sinh dân tộc mới thực sự hiệu quả/.

