Xử lý tổ chức tín dụng yếu kém, kiểm soát chặt tín dụng rủi ro

Các tổ chức tín dụng phải tăng cường kiểm soát chất lượng tín dụng, hạn chế nợ xấu, đồng thời chấm dứt tình trạng cho vay tập trung vào một số doanh nghiệp, nhóm khách hàng lớn hoặc các dự án thuộc “hệ sinh thái”, “sân sau”.
Ảnh minh họa - VGP
Ảnh minh họa - VGP

Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng vừa ký Quyết định số 1809 phê duyệt Đề án “Tiếp tục hiện đại hóa hệ thống ngân hàng, xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém, tăng cường khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa”.

Một trong những nội dung đáng chú ý của Đề án là xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém, gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng và quỹ tín dụng nhân dân.

Theo đó, phương án cơ cấu lại cụ thể của từng tổ chức tín dụng được phê duyệt theo quy định pháp luật. Việc thực hiện các phương án này sẽ được giám sát; những khó khăn, vướng mắc sẽ được xử lý theo thẩm quyền hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét.

Trường hợp cần sửa đổi, bổ sung phương án cơ cấu lại, việc này sẽ được xem xét, quyết định trên cơ sở đề xuất của tổ chức tín dụng, quy định pháp luật và kết quả thực hiện phương án theo lộ trình.

Đối với các quỹ tín dụng nhân dân yếu kém, Đề án yêu cầu triển khai đồng bộ các giải pháp xử lý tại Đề án “Cơ cấu lại tổng thể hệ thống quỹ tín dụng nhân dân và Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030, định hướng đến năm 2045”.

Tăng cảnh báo sớm, ngăn rủi ro lan truyền

Đề án yêu cầu tăng cường hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của các tổ chức tín dụng và phòng, chống rửa tiền; đồng thời tăng cường cảnh báo sớm.

Việc phối hợp với các cơ quan chức năng trong đánh giá, nhận diện và cảnh báo rủi ro cũng được tăng cường, nhằm chủ động có phương án khắc phục và xử lý nghiêm các sai phạm trong hoạt động ngân hàng.

Các lĩnh vực được đặc biệt lưu ý gồm sở hữu, cấp tín dụng, quản lý vốn vay và chấp hành các quy định về an toàn hoạt động. Mục tiêu là không để sai phạm tích tụ thành vấn đề lớn, gây tác động lan truyền và ảnh hưởng đến an toàn hệ thống.

Đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Đề án yêu cầu theo dõi, giám sát các tổ chức tín dụng, đặc biệt những tổ chức có mức độ tập trung tín dụng cao hoặc tốc độ tăng trưởng tín dụng cao, gia tăng nhanh; tỷ lệ nợ xấu cao; dư nợ cấp tín dụng trong các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro có xu hướng tăng nhanh hoặc chiếm tỷ trọng lớn.

Qua đó, các rủi ro tiềm ẩn được phát hiện sớm để có biện pháp cảnh báo, chấn chỉnh, xử lý kịp thời và hạn chế rủi ro tập trung tín dụng theo quy định.

Kiểm soát tín dụng vào bất động sản, chứng khoán

Đối với các tổ chức tín dụng, Đề án yêu cầu tăng cường kiểm tra, kiểm soát và kiểm toán nội bộ đối với hoạt động cấp tín dụng; chất lượng và mức độ tập trung tín dụng; khách hàng, nhóm khách hàng liên quan; tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro cao và đầu tư trái phiếu doanh nghiệp.

Trong đó, các tổ chức tín dụng phải lưu ý tình trạng nợ xấu cao hoặc tăng nhanh; dư nợ tín dụng tập trung vào lĩnh vực bất động sản hoặc tăng mạnh để đầu tư, kinh doanh chứng khoán.

Các tổ chức tín dụng phải nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng, tăng cường kiểm tra việc sử dụng vốn vay, đặc biệt đối với các khoản cấp tín dụng trong lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro. Qua đó, phát hiện sớm nguy cơ, kiểm soát chất lượng tín dụng và hạn chế nợ nhóm 2, nợ xấu phát sinh.

Đồng thời, các tổ chức tín dụng phải rà soát những khoản lãi dự thu lớn, có số ngày dự thu dài hoặc tăng mạnh; thoái các khoản lãi dự thu không đúng quy định nếu có, bảo đảm lợi nhuận phản ánh đúng thực trạng hoạt động kinh doanh.

Chấm dứt cho vay tập trung vào “hệ sinh thái”, “sân sau”

Đề án cũng yêu cầu các tổ chức tín dụng tăng cường năng lực tài chính và khả năng chống chịu; thực hiện đầy đủ, kịp thời các quy định về phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro, định giá, quản lý và xử lý tài sản bảo đảm.

Các tổ chức tín dụng phải đẩy mạnh, đa dạng hóa biện pháp thu hồi, xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm và các khoản đầu tư kém hiệu quả.

Đáng chú ý, các tổ chức tín dụng phải chấm dứt tình trạng cho vay tập trung vào một số doanh nghiệp, nhóm khách hàng lớn, dự án thuộc “hệ sinh thái” hoặc “sân sau” của tập đoàn có thể gây rủi ro, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn và lành mạnh của tổ chức tín dụng.

Các tổ chức tín dụng cũng phải thường xuyên rà soát, theo dõi chặt chẽ tình hình và biến động sở hữu cổ phần; hoạt động cấp tín dụng đối với cổ đông, lãnh đạo và người có liên quan, nhóm cổ đông cần quan tâm (nếu có).

Việc này nhằm phát hiện sớm dấu hiệu rủi ro, hành vi vi phạm pháp luật về sở hữu cổ phần và những tồn tại có thể ảnh hưởng đến an toàn hoạt động.

Đồng thời, các tổ chức tín dụng phải chủ động phối hợp với cổ đông trong quá trình thoái vốn, đặc biệt đối với cổ đông là tập đoàn, tổng công ty, doanh nghiệp nhà nước và người có liên quan có sở hữu cổ phần vượt giới hạn, bảo đảm tuân thủ quy định pháp luật.