Tình trạng đáng lo ngại này được dự báo là sẽ còn tiếp diễn nếu như không có những giải pháp tích cực để cứu doanh nghiệp. Trên thực tế hiện nay còn rất nhiều DN trong số khoảng 500 ngàn DN đăng ký không có khả năng tồn tại. Nguyên do là phần lớn các DN sống nhờ vào nguồn vốn từ các ngân hàng, mà lợi nhuận bình quân của DN chỉ từ 10 tới 15%, vậy nhưng lại rơi hết vào ngân hàng (NH). Vòng luẩn quẩn cứ như vậy mà lặp đi lặp lại. Mới đây lãi suất cho vay có giảm nhưng việc tiếp cận nguồn vốn vay, trên thực tế lại không dễ. Vậy nên sản xuất, kinh doanh đình đốn và ngưng trệ là điều dễ hiểu. Có thể thấy là hiện nay phần lớn các DN tập trung vào lĩnh vực xây dựng, song các dự án đóng băng đã làm nảy sinh ảnh hưởng dây chuyền: sắt thép xi măng, gạch cát…đứng theo và hàng loạt ngành nghề kinh doanh, dịch vụ khác…cũng chậm lại. Tổng cung và tổng cầu của XH đều giảm.
![]() |
| Dự báo, đến cuối quý II-2012, làn sóng doanh nghiệp trong nước phá sản, dừng hoạt động và không nộp thuế sẽ tiếp tục gia tăng. Ảnh minh họa-Internet |
Trước thực trạng này, có không ít chuyên gia nhận định: cần
xem xét nghiêm túc sau sự thua lỗ và phá sản của 50 ngàn DN nói trên là gì, có
thể xem đó là hiện tượng bình thường hay không? Nếu chỉ có từ 2 tới 3% số DN phá
sản có thể xem là chuyện bình thường, song thực tế lại gấp hơn 10 lần thì rõ
ràng là có gì đó không ổn. Giới chuyên môn phân tích,các dấu hiệu và các yếu tố
tác động khiến các DN rơi vào tình trạng khó khăn hiện vẫn không giảm. Câu hỏi
đặt ra là phải chăng DN tự tạo ra những khó khăn hay do phản ứng của chính sách
còn chậm? Khó khăn phổ biến là thiếu vốn, tiếp cận nguồn vốn từ NH là không dễ
và điều quan trọng là lãi suất vẫn còn quá cao. Vậy nhưng cũng cần phải chia sẻ
những bất cập từ phía ngành NH. Đó là NH sẽ chịu ảnh hưởng bởi thanh khoản. Nếu
DN làm ăn tốt vốn nợ sẽ được thanh khoản. Còn không, nếu thua lỗ sẽ không hoàn
được vốn vay, NH sẽ chịu ảnh hưởng trực tiếp và việc đổ vỡ là khó tránh khỏi.
Thực trạng DN phá sản hàng loạt còn đặt ra những vấn đề XH khác như người lao
động thất nghiệp, việc nợ lương, nợ BHXH, khả năng phát sinh các vấn đề an ninh
trật tự XH…làm ảnh hưởng tới tiến trình phát triển KTXH chung của đất nước.
Trong khi phần lớn các DN vừa và nhỏ lao đao thì ngay tại các tập đoàn và Tổng
công ty (TCT) Nhà nước lại không làm được vai trò chủ đạo mà còn là một gánh
nặng đối với Ngân sách quốc gia. Ngay trong tháng 4 này, cùng một lúc, Thanh tra
Chính phủ đã công bố kết quả thanh tra trong quí 1 năm 2012. Theo đó các tập
đoàn TCT lớn đều có những sai phạm nghiêm trọng trong hoạt động sản xuất kinh
doanh như Tập đoàn Dầu khí trên 18 ngàn tỷ, Tổng công ty Sông Đà hơn 10 ngàn tỷ,
Tổng Công ty cổ phần viễn thông quân đội-Viettel hàng ngàn tỷ... Tổng cộng sơ bộ
thiệt hại của các đơn vị này là hơn 38 ngàn tỷ đồng. Nguyên nhân chủ yếu là do
các Tập đoàn và TCT đầu tư tràn lan ra ngoài các lĩnh vực kinh doanh chính của
mình như địa ốc, khách sạn, nhà hàng, hoặc liên doanh vào các ngành nghề khác…mà
không kiểm soát được. Trước đó Tập đoàn Vinashin còn đình đám hơn bởi món nợ
khổng lồ lên tới 88 ngàn tỷ đồng. Có thể nói đây là nỗi đau gây nhức nhối cho
toàn XH bởi được ưu ái và quá thuận lợi về nhiều mặt, đặc biệt là nguồn vốn và
tài sản Nhà nước. Việc xử lý hậu quả và quy trách nhiệm cho bộ máy lãnh đạo và
quản lý các DN này đã đành, nhưng điều mà dư luận quan tâm là những khoản thất
thoát to lớn kia - trong đó có vốn vay nước ngoài, có tiền đóng thuế của người
dân, thì làm sao thu hồi và sẽ được thu hồi như thế nào. Thiết nghĩ đây là những
câu hỏi cần có sự trả lời thỏa đáng.
Đứng trước thực tế này, Chính phủ đã và đang triển khai những biện pháp đồng bộ
nhằm cứu DN và góp phần phục hồi từng bước nền kinh tế đang gặp nhiều khó khăn.
Chính sách khống chế lạm phát bước đầu đã thành công, chủ trương giảm lãi suất
của NHNN, chính sách linh hoạt để hỗ trợ sản xuất như miễn giảm thuế cho DN, chủ
trương mở rộng từng trọng điểm Sản xuất kinh doanh, khai thông thị trường; Tái
cấu trúc lại các Tập Đoàn và TCT, khai tử những DN yếu kém và xây dựng những DN
mạnh. Thiết nghĩ, từ những bài học vừa qua, việc giám sát chặt chẽ và rà soát
lại hoạt động của các Tập đoàn và TCT là hết sức cần thiết để tránh xảy ra các
tình trạng tương tự. Đồng thời Nhà nước cũng cần tạo ra sân chơi bình đẳng, chủ
động tháo gỡ khó khăn cho các DN nói chung để họ có thêm điều kiện phát triển vì
suy cho cùng dân có giàu thì nước mới mạnh.


