Ngay từ đầu, chúng ta đã khẳng định, vào WTO, chúng ta
có cả cơ hội và thách thức. Nhà nước cũng đã trù tính nhiều giải pháp
để tránh thủ cơ hội, giảm thách thức để phát triển kinh tế, xã hội.
Chúng ta cũng đã gặt hái được kết quả rất khả quan, vượt qua khủng
hoảng, tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởn hợp lý và bảo đảm an sinh xã
hội, tạo được niềm tin của các nhà đầu tư trong nước và quốc tế. Khó
khăn, thách thức là thế, tốc độ tăng trưởng kinh tế vẫn đạt trên 5,3%,
lạm phát vẫn giữ được dưới 7% quả là thành tích đáng phấn khởi mà ngay
cả các nước có nền kinh tế phát triển cũng không có được kết quả này.
Kết thức năm Sửu, bước sang năm Dần thì với kết quả này sẽ làm đà cho
sự đột phá trong năm 2010 này.
![]() |
| Sau 3 năm gia nhập WTO, nền kinh tế có nhiều "được" và "mất". Ảnh minh họa. |
Nhưng nói thế, không có nghĩa chúng ta không có những khiếm
khuyết cần khắc phục. Nhận thức được những khiếm khuyết ấy, chúng ta sẽ
phát triển bền vững và thắng lợi trong các cuộc cạnh tranh. Hội nhập
kinh tế quốc tế đã và đang là nhân tố thiết yếu để Việt Nam thúc đẩy
thương mại, thu hút đầu tư, tạo đà tăng trưởng kinh tế trong quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao của vị thế Việt Nam trên trường
quốc tế. Chúng ta đã rất nỗ lực để có được 26 quốc gia công nhận Việt
Nam có nền kinh tế thị trường. Nhưng con số này là còn quá nhỏ so với
quan hệ thương mại của Việt Nam với 230 quốc gia và vùng lãnh thổ. Vì
được công nhận nền kinh tế thị trường, hàng xuất khẩu của doanh nghiệp
Việt Nam sang các nước này không gặp rào cản kỹ thuật. Như vậy, Chính
phủ không chỉ đi tìm thị trường cho doanh nghiệp mà còn tìm cách để bảo
đảm rằng, thị trường đó là ổn định, an toàn. Thế nhưng, theo khảo sát
của cơ quan chức năng thì hiện mới chỉ có 20% các doanh nghiệp Việt Nam
biết tận dụng cơ hội để hội nhập, khai thác tốt những lợi ích từ các
hiệp định đã ký kết. Do vậy, doanh nghiệp cần biến những cơ hội từ hội
nhập thành lợi thế . Thực tế này dẫn đến một số kế hoạch, chưa được
thực hiện tốt, công tác chỉ đạo còn bất cập, chưa theo kịp thời cuộc.
Hệ quả của thực trạng này là công tác cải cách hành chính chưa triệt
để, năng lực cạnh tranh yếu ở cả ba cấp độ: doanh nghiệp, cấp tỉnh và
sản phẩm chủ yếu. Hệ luy là doanh nghiệp liên tục gặp phải những vụ
kiến chống phá giá, liên tục vấp phải các rào cản mà các nước nhập khẩu
dựng lên. Ngược lại, doanh nghiệp Việt Nam chưa tận dụng quyền và lợi
thế là thành viên WTO, chưa biết phản vệ lại để bảo vệ thị trường trong
nước. Các bộ, ngành không kịp ban hành những qui định để dựng hàng rào
chống lại hàng hóa nhập khẩu kém chất lượng, bảo vệ hàng hóa trong nước
sản xuất. Hai đối tượng thụ hưởng thành quả khi vào WTO là người tiêu
dùng và doanh nghiệp không chỉ là người có trách nhiệm với chính mình
mà phải có trách nhiệm với xã hội về sự phát triển kinh tế. Các cơ quan
quản lý cũng phải có các giải pháp cụ thể, thiết thực để doanh nghiệp,
người tiêu dùng hiểu và biết được những gì cần làm để tự bảo vệ mình.
Như vậy, chúng ta mới khai thác được một cách hiệu quả khi hội nhập
kinh tế quốc tế.
Nguyễn Khánh

