![]() |
Sau ngày đất nước thống nhất 30/04/1975, dù kinh tế còn nhiều
khó khăn do hậu quả chiến tranh để lại, nhưng VN vẫn khẳng định sự hiện diện qua
các kỳ Đại hội thể thao khu vực- SEA Games như minh chứng cho sức bật và ý chí
thép của một dân tộc yêu chuộng hòa bình, hòa hợp với bạn bè thế giới. Từ chỗ
chỉ xếp ở nhóm cuối và quanh quẩn trong vùng trũng thể thao khu vực sau những
lần đầu trở lại, VN đã tiến lên từng nấc một cách vững chắc để rồi tự hào đứng
đầu ĐNÁ tại SEA Games 22 trên sân nhà và sau đó luôn duy trì trong nhóm các quốc
gia thể thao hàng đầu khu vực.
Tại đấu trường ASIAD danh giá, Việt Nam cũng ghi tên mình vào bảng thành tích
với hàng loạt HCV đỉnh cao ở nhiều bộ môn Bắn Súng, Taekwondo, Karatedo, Thể dục
thể hình, Billiard & snooker. Và trong bối cảnh nền kinh tế chúng ta chưa thể
sánh kịp với các cường quốc kinh tế lớn, thì chính thể thao đã nâng quốc kỳ Việt
Nam bay cao, sánh ngang với các cường quốc năm châu khi Trần Hiếu Ngân-
Teakwondo, Hoàng Anh Tuấn-Cử tạ đã đường hoàng giành được những chiếc HCB chói
lọi tại Olimpic Sydney 2000 và Bắc Kinh 2008.
Cùng với thành công vượt bậc khi giành được vị trí á quân tại Asian Indoor Games
III với tư cách chủ nhà, VN đã cho thấy chỗ đứng nhất định trên bản đồ thể thao
Châu lục.
Nhưng quá khứ đã qua đi, đặt trong bối cảnh hiện tại, khi mà mặt bằng chung của
thể thao các nước ngày càng được nâng cao theo phương châm “nhanh hơn, xa hơn,
cao hơn”, thì thể thao Việt Nam có phần chững lại. Chúng ta cũng giành được HCV
ở tầm châu Á và thế giới ở nhiều bộ môn, nhưng hầu hết trong số đó không thuộc
hệ thống thi đấu Olimpic. Hiện có khoảng 1/4 số môn thể thao mà VN đầu tư đại
trà-có khi “vô thưởng vô phạt”, đã khiến nguồn kinh phí của Nhà nước rót vào các
môn thể thao chính thống bị phân hóa, dẫn đến chỉ số thành tích khiêm tốn vì sự
dàn trải thiếu tập trung.
Đặc biệt, vấn đề khoa học thể thao như nghiên cứu qui trình phát triển thể chất
của VĐV, tủ thuốc y học thể thao, hệ thống đào tạo trẻ chưa được quan tâm, thậm
chí là bị bỏ ngỏ. Xây dựng cơ sở vật chất chưa tính đến yếu tố quốc tế hóa các
điều kiện, tiêu chuẩn, cho nên thành tích thể thao khi xác lập không được quốc
tế công nhận; chẳng hạn các chỉ số của môn điền kinh thi đấu tại sân Mỹ Đình, có
lần bị bác bỏ vì sức gió khá mạnh tại khu vực này.
Ở tầm chiến lược, cột mốc thành tích phấn đấu của VN không rõ ràng, chưa xác
định được ngưỡng mục tiêu theo trục thời gian nên đã gieo vào suy nghĩ của nhiều
thế hệ HLV, VĐV tư tưởng cục bộ, “ăn xổi ở thì” và thiếu nền tảng khoa học.
Chủ trương xã hội hóa thể thao của Đảng trong công tác TDTT chưa được triển khai
đúng mức, do còn không ít các tổ chức, liên đoàn thể thao ỉ lại trông chờ vào “
bầu sữa” của Nhà nước.
Rõ ràng, đây chính là những thách thức nội tại, nằm áng ngữ ngay ở lối ra, trước
khi thể thao VN có thể tiếp cận được những mục tiêu lớn hơn.
Soi lại với vinh quang quá khứ trong điều kiện khó khăn của những ngày tháng mà
dân ta phải sống “góp nhặt” dưới bom cày, đạn xới, thiết nghĩ những người có
trách nhiệm phải tìm cách “xóa sổ’ những rào cản kể trên, nhằm đưa thể thao VN
vượt lên chính mình để vươn ra biển lớn.

