Ngành Mía đường Việt Nam vừa cho biết những diễn biến bất thường của giá đường trên thị trường thế giới. Hai tháng gần đây, giá đường đã giảm 30%, từ 740 USD còn 530 USD/tấn. Nếu giá giảm như hiện nay, sẽ tác động đến vụ chế biến mía đường sắp tới, giá mía sẽ rất thấp, bà con lại rơi vào cảnh không bán được, mía sẽ đầy đồng.
Theo nhận định của những ngừơi trong nghề, thời gian qua, gía đừơng thế giới tăng là do yếu tố đầu cơ từ nứơc ngòai. Nhưng gía đừơng ở trong nước tăng còn do bản thân ngành đừơng gây ra. Các nhà máy, doanh nghiệp và đại lý phân phối đừơng lo sợ gía đừơng tiếp tục tăng, đã hạn chế bán ra và một phần khác muốn găm hàng để trục lợi. Điều này càng làm cho gía đừơng trong nước tăng cao, có thời điểm 19.000 đồng/kg đừơng khi đến tay ngừơi tiêu dùng.
Hiện nay gía đừơng thế giới đã giảm, tất yếu gía đừơng trong nứơc cũng phải giảm theo nhưng hệ quả của nó sẽ tác động lâu dài đến sản xuất. Trứơc đây, khi gía đừơng tăng, các nhà máy đừơng ở phía Nam cạnh tranh nhau mua mía nguyên liệu với giá rất cao, lúc cuối vụ lên đến 1,4 triệu đồng/tấn, cao nhất từ trước đến nay. Giá bán cao, bà con lãi cả trăm triệu đồng/ha. Vì thế, diện tích mía trồng mới tăng cao là điều dễ hiểu. Tuy nhiên, với hiện trạng giá đường thế giới giảm mạnh, nếu các nhà máy đừơng và công ty thương mại cùng bán lựơng đừơng dự trữ ra sẽ đẩy giá đường xuống thấp, gây hỗn loạn thị trường. Khi đó, khi vào vụ sản xuất đừơng, các nhà máy sẽ định gía mua mía giảm tương ứng. Và với một mức gía thấp hơn gía thành sản xuất, điều tất yếu xảy ra là bà con trồng mía bị thua lỗ sẽ tái diễn cảnh phá bỏ cây mía để tìm cây trồng khác. Như vậy, sẽ đẩy ngành mía đường vào vòng luẩn quẩn, bà con nông dân chặt mía, dẫn tới thiếu nguyên liệu chế biến cho vụ tới và giá lại tăng...
Điệp khúc này sẽ tái diễn nếu các bên không có biện pháp xử lý hoặc điều chỉnh. Trứơc nhất, Nhà nứơc cần quản lý nhập khẩu đường chặt chẽ hơn, nhất là khi giá đường thế giới có những biến động lớn. Kế đến là các cơ quan chức năng tổ chức lại hệ thống kinh doanh, chế biến, tiêu thụ đường từ nhà máy đến tay người tiêu dùng giảm bớt tầng nấc trung gian. Không chỉ vì đường từ nhà máy đến người mua chênh nhau gần 5.000 đồng mỗi ký lô mà việc thống kê, dự báo lượng đừơng tồn kho không còn chính xác để có kế họach điều chỉnh trong sản xuất hoặc khi phải nhập khẩu. Một vấn đề khác là khi xây dựng các nhà máy đừơng thừơng đi đôi với quy họach vùng trồng mía đã được ngành nông nghiệp, các địa phương và các nhà máy quan tâm nhưng vẫn chưa đầy đủ. Trong đó, quan trọng nhất là giá mua mía cần bảo đảm cho bà con nông dân có lãi để duy trì vùng trồng mía. Các nhà máy đường phải giữ ở mức giá hợp lý và tạo lòng tin nơi người trồng, dù giá thị trường thấp cũng phải đảm bảo mua vào cho nông dân với giá có lời.
Nguyễn Thắng
