Vấn đề hôm nay: Chưa thuộc bài học liên kết

(VOH) - Gần đây, người nuôi cá tra ở đồng bằng sông Cửu Long đang lâm vào tình trạng lỗ nặng, nợ nần thậm chí kiệt quệ vì giá cá tra giảm và gần như chạm đáy so với mấy năm trước. Tương lai cá tra ở đồng bằng sông Cửu Long đang trở nên bấp bênh hơn bao giờ hết.
Không ít doanh nghiệp nuôi cá tra, mạnh ai nấy tự tìm thị trường, cạnh tranh thiếu lành mạnh, mà quên đi chất lượng sản phẩm cá tra, làm tổn hại đến uy tín chung. (ảnh minh họa: fishenet)

Nếu nhìn vào quá khứ, đây là bức tranh tương phản so với thời kỳ hoàng kim của con cá tra trên thị trường nội địa và xuất khẩu cách vài năm trước. Diện tích nuôi cá tra ở 10 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long hiện còn hơn 4.300 ha, sản lượng cá tra nửa đầu năm nay tăng 2% nhưng hàng không bán được, dẫn đến ùn ứ kéo dài, giá cả ngày càng bấp bênh. Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp mua hàng không theo phương thức “tiền trao cháo múc” mà là “mượn vốn đi buôn”, thành ra người nuôi cá tra cũng chẳng thể thu hồi được vốn để kịp trang trải nợ nần và tái đầu tư sản xuất. Thậm chí, có doanh nghiệp đã ký hợp đồng bao tiêu nhưng đến giờ cuối thì “bẻ kèo”, thu mua giá thấp khiến người nuôi ngậm trái đắng. Đó là chưa kể tình trạng không ít doanh nghiệp mạnh ai nấy tìm thị trường, cạnh tranh thiếu lành mạnh, mà quên đi chất lượng sản phẩm cá tra, làm tổn hại đến uy tín chung. Từ thực tế đó, nhiều thị trường như Mỹ, Liên minh Châu Âu và nhiều nước khác… bắt đầu thiếp lập nhiều hàng rào kỹ thuật, phòng vệ thương mại khắt khe hơn khiến cá tra Việt Nam ngày càng khó chen chân vào những thị trường lớn.



Nhưng bức tranh các mặt hàng nông sản xuất khẩu Việt Nam trở nên “xám xịt” hẳn đi trong năm nay không chỉ có con cá tra mà còn có cả mặt hàng chủ lực khác là lúa gạo.

Cách đây không lâu, nông dân đồng bằng sông Cửu Long rơi vào cảnh khốn khổ và lao đao vì lúa chín không bán được, lên mộng ngay tại ruộng, còn gạo xuất khẩu thì rớt giá thê thảm ở thị trường xuất khẩu. Việc mua tạm trữ 1 triệu tấn gạo theo chủ trương của Chính phủ ngay từ đầu năm, đến nay các ngành địa phương triển khai không hiệu quả, khiến Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phải xin gia hạn đến giữa tháng 8 để hoàn tất kế hoạch này.

Đứng ở góc độ Nhà nước, hiệp hội hay doanh nghiệp thì chuyện “hoãn binh” thu mua chẳng là gì cả, thậm chí chuyện mua trước, mua sau có khi lại nằm trong tính toán kinh doanh của các doanh nghiệp, nhưng với hàng triệu nông dân trồng lúa, lại là nỗi ám ảnh trong suốt mùa vụ. Còn nhớ vào các năm 2008 - 2009, khi thị trường gạo thế giới biến động, áp lực thiếu nguồn cung lương thực lớn, giá gạo tăng cao vút nhưng chúng ta “án binh bất động” không cho xuất khẩu. Đến khi giá lúa gạo xuống chạm đáy, chúng ta lại bị ùn ứ, nông dân lại chính là người chịu nhiều thua thiệt nhất!


Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam - ông Nguyễn Quốc Cường từng trăn trở: "Nông dân vẫn là đối tượng nghèo nhất, khó khăn nhất, được hưởng lợi từ thành quả của công cuộc đổi mới ít nhất". Biết vậy nhưng nhiều năm qua, ngành nông nghiệp vẫn loay hoay, chưa có giải pháp sáng hơn để tìm lối ra cho nông nghiệp - nông dân - nông thôn.

Việt Nam là nước xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới với các mặt hàng như gạo, cà phê, tiêu, cá tra... nhưng điều đó cũng chẳng có ý nghĩa gì khi không ít nông dân sản xuất những mặt hàng này năm nào cũng thấp thỏm và âu lo trên chính mảnh đất hay ao - đìa mặt nước của mình! Vì sao vậy?

Theo các chuyên gia đầu ngành, liên kết sản xuất trong phát triển nền nông nghiệp hiện đại là hướng đi tất yếu. Thế nhưng, thực tế các mô hình liên kết, bao tiêu sản phẩm của các doanh nghiệp đối với nông hộ vẫn còn hết sức lỏng lẻo, rời rạc, dẫn đến nông sản Việt Nam luôn bị lép vế trên thị trường quốc tế. Nói chính xác là chúng ta chưa thuộc bài học liên kết, vẫn còn tình trạng mạnh “sân ai nấy đá” nên dù có bàn bạc, trao đổi rất nhiều nhưng hiệu quả liên kết vẫn chưa như ý.

Nhiều người trách nông dân làm ăn tự phát, chạy theo phong trào nhưng đó lại là nhược điểm cố hữu của nông dân và nó càng có độ chênh lớn trong tư duy của nền kinh tế thị trường. Chính vì vậy, họ cần có sự định hướng, quy hoạch của các nhà quản lí, bộ ngành chức năng, hiệp hội ngành nghề hoặc các địa phương… Thế nhưng nhiệm vụ này xem ra vẫn chưa được làm tốt. Trong khi đó, đánh giá hiệu quả và mức độ thành công của liên kết đến đâu, bị vướng ở khâu nào, còn lỏng lẻo ra sao… thì chưa thấy có tổng kết hay một cơ quan, hiệp hội, bộ ngành nào đứng ra chịu trách nhiệm.

Trong bối cảnh thị trường đang cạnh tranh khốc liệt, các rào cản xuất khẩu ngày càng xuất hiện dày đặc hơn ở những thị trường tiềm năng, chúng ta cần xốc lại mô hình liên kết doanh nghiệp với doanh nghiệp, doanh nghiệp với hiệp hội ngành nghề, doanh nghiệp với nông dân, bộ ngành với bộ ngành, không chạy theo số lượng, mà phải chú trọng chất lượng là yêu cầu cấp bách hiện nay.



Một lần nữa thực tế đang đòi hỏi bài học liên kết cần phải học thuộc nằm lòng, mới hy vọng cải thiện tình trạng hiện nay.