Về chất lựơng sản phẩm thủy sản, các cơ quan nhà nước đang tích cực kiểm tra giám sát, xử lý vi phạm đối với mặt hàng tôm nguyên liệu và họat động chế biến ở các nhà máy. Sự việc 11 doanh nghiệp vi phạm trong bơm chích tạp chất tôm nguyên liệu vừa được ngành nông nghiệp xử phạt và công bố rộng rãi danh tính cho thấy việc chấn chỉnh, nâng cao chất lựơng sản phẩm đồng nghĩa với nâng cao uy tín thương hiệu cho sản phẩm tôm xuất khẩu nói riêng và thủy sản Việt Nam nói chung. Các doanh nghiệp không thể xem thường điều này. Bởi nếu chất lựơng sản phẩm xuất khẩu không đạt tiêu chuẩn của nứơc xuất khẩu, trứơc tiên hàng hóa đó sẽ bị xử lý, doanh nghiệp thua thiệt một phần nhưng ảnh hửơng cúôi cùng vẫn là ngừơi nuôi thủy sản gánh chịu. Tôm sú nuôi quản canh ở các tỉnh ven biển vẫn là thế mạnh của Việt Nam, với sản lựơng trên 300.000 tấn/năm. Bảo đảm chất lựơng và bình ổn được thị trừơng là chìa khóa để con tôm phát triển bền vững.
Đối với cá tra, các doanh nghiệp đã tích cực chuẩn bị, tự xây dựng vùng nguyên liệu, bảo đảm cung cấp cho mình từ 30-40%, phần còn lại được thu mua từ ngừơi nuôi khác. Vấn đề chất lựơng sản phẩm cá tra cũng đang ngày càng nâng cao. Hiện nay, một số mô hình nuôi trồng theo tiêu chuẩn GAP đã được thực hiện. Đây là một xu hứơng tốt cho phát triển nghề nuôi cá tra. Tuy nhiên, vấn đề là cần phải cân đối giữa ngùôn cung nguyên liệu và nhu cầu thị trừơng tiêu thụ. Trong mấy năm gần đây, sản lựơng cá tra tăng lên gấp 2-3 lần nhưng đa số ngừơi nuôi cá tra không được lợi, thậm chí nhiều hộ phải treo ao hầm vì thua lỗ, không có vốn tái đầu tư. Bởi vì giá cá tra thừơng xuyên biến động, phần lớn nằm dứơi gía thành sản xuất. Một trong những nguyên nhân là do các doanh nghiệp cạnh tranh nhau, chạy theo lợi nhuận đã chào gía thấp, giảm chất lựơng sản phẩm, tỷ lệ mạ băng cao đến 20%, hoặc mua giá thấp khi ngùôn cung dội chợ và đẩy giá lên cao khi thiếu hàng nguyên liệu cho chế biến. Sự bất ổn trong cung cầu cùng với tình trạng giảm chất lựơng đang được điều chỉnh. Qua đây sẽ giúp con cá tra phát triển ổn định, bền vững.
Một vấn đề khác cũng cần quan tâm là sự liên kết, hài hòa lợi ích giữa doanh nghiệp và ngừơi nuôi tôm cá. Điều này hầu như các cơ quan quản lý nhà nứơc, doanh nghiệp, nhà khoa học và ngừơi nuôi thủy sản đều hiểu rõ. Tuy nhiên trong thực tế chưa thực hiện được. Những cam kết ban đầu đôi khi bị phá vỡ do sự biến động giá cả thị trừơng. Rốt cuộc ngừơi nuôi bị lỗ vốn, không thể nuôi tiếp tục. Hệ quả là thiếu nguyên liệu cho các nhà máy chế biến, lúc doanh nghiệp lãnh hậu quả, nhà máy họat động cầm chừng. Diễn biến của nuôi trồng và chế biến con cá tra từ năm 2008 đến nay là một minh chứng.
Năm 2010, chỉ tiêu kim ngạch xuất khẩu của thủy sản dự kiến 4,5 tỷ USD là khả thi được nhưng với yêu cầu của thị trường ngày càng khắt khe về an toàn vệ sinh thực phẩm. Nếu như trước đây doanh nghiệp xuất khẩu chỉ cần tiêu chuẩn HACCP, ISO 9000... thì nay áp dụng tiêu chuẩn toàn cầu của Hiệp hội Bán lẻ Anh quốc BRC dành cho thực phẩm, tiêu chuẩn thực phẩm quốc tế IFS, ISO 22000... Đối với hải sản khai thác phải chứng minh nguồn gốc theo luật IUU, thủy sản nuôi trồng phải áp dụng tiêu chuẩn quốc tế Global GAP, đang trở thành điều kiện cấp thiết. Kế đến là quản lý chặt chẽ thị trường xuất khẩu, phải hạn chế tối đa tình trạng bán cạnh tranh, phá giá và làm thế nào hài hòa cả 3 lợi ích giữa doanh nghiệp, người nuôi cá và lợi ích đất nước.
