![]() |
| Chính phủ ra Nghị quyết 15 về một số giải
pháp đẩy mạnh cổ phần hóa, thoái vốn tại doanh nghiệp, trong đó có
quy định về điều kiện thoái vốn, cho phép nếu thiết lập dự phòng đầy
đủ thì sẽ được bán dưới mệnh giá nhưng theo cơ chế thị trường. (ảnh minh họa: Dantri) |
Mặc dù doanh nghiệp nhà nước vẫn đóng vai trò quan trọng trong các thành phần
kinh tế quốc dân và có những đặc thù riêng nhưng luật doanh nghiệp năm 2005
không có bất kỳ chương nào điều chỉnh đối với loại hình doanh nghiệp có 100% vốn
nhà nước mà chỉ được quy định tại mục 2 về công ty trách nhiệm hữu hạn một thành
viên và một số điều khoản khác nằm rãi rác trong luật. Chẳng hạn như quyền và
trách nhiệm của hội đồng thành viên thì đề cập ngắn gọn ở 2 điều: thứ nhất hội
đồng thành viên nhân danh chủ sở hữu công ty tổ chức thực hiện các quyền và
nghĩa vụ của chủ sở hữu; thứ 2 hội đồng thành viên có quyền nhân danh công ty
thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công ty. Vì vậy, doanh nghiệp nhà nước
thường phải chờ xin ý kiến hoặc được điều chỉnh bởi các văn bản dưới luật. Điều
này phần nào chưa tạo cho doanh nghiệp nhà nước sự chủ động, linh hoạt, bình
đẳng đúng như mục tiêu áp dụng của Luật doanh nghiệp năm 2005. Chẳng hạn về thẩm
quyền của hội đồng thành viên vẫn còn nhiều điều phải bàn.
Tại buổi làm việc với Đoàn đại biểu Quốc hội TPHCM mới đây, ông Lê Tùng, Chủ
tịch Hội đồng thành viên Tổng công ty thương mại Sài Gòn nêu ví dụ, vừa rồi
Chính phủ ra Nghị quyết 15 về một số giải pháp đẩy mạnh cổ phần hóa, thoái vốn
tại doanh nghiệp. Trong đó có quy định về điều kiện thoái vốn, cho phép nếu
thiết lập dự phòng đầy đủ thì sẽ được bán dưới mệnh giá nhưng theo cơ chế thị
trường, cụ thể nếu bán cổ phần dưới 10 tỷ thì hội đồng thành viên được quyền
quyết định, còn trên 10 tỷ thì chủ sở hữu quyết định, trong trường hợp của Tổng
công ty thương mại Sài Gòn chủ sở hữu là Ủy ban nhân dân TPHCM. Theo ông Tùng
thị trường chứng khoán trồi sụt từng ngày từng giờ, nếu có nhà đầu tư đồng ý mua
bằng với mệnh giá thị trường giá trị trên 10 tỷ thì phải hỏi chủ sở hữu, mà đã
hỏi chủ sở hữu thì sẽ mất thời gian, cơ hội sẽ qua đi. Ông Lê Tùng nói: “Xin ý
kiến ủy ban thì ủy ban hỏi ban đổi mới, hỏi Sở tài chính, hỏi một vòng khi Ủy
ban đồng ý cho bán thì nhà đầu tư đã đi mất vì giá đã khác. Thủ tục hành chính
không theo cơ chế thị trường, giá bán trên thị trường trồi sụt hàng ngày mà
không cho hội đồng thành viên quyết. Trong khi đó giao cho Hội đồng thành viên
quản lý vốn điều lệ, hiện nay là 6.800 tỷ so với 890 tỷ sau 17 năm thành lập
nhưng không quyết định bán cổ phiếu trên 10 tỷ như vậy là mất cơ hội. Trong khi
Chính phủ yêu cầu hết năm 2015 thì phải thoái vốn nhưng nếu như vậy thì làm sao
thoái”.
Bên cạnh việc quản lý, giám sát về vốn chủ sở hữu đảm bảo mục tiêu kinh doanh,
thì bằng các văn bản dưới luật, việc quản lý hành chính có những tác động gây
ảnh hưởng nhất định đến hoạt động, hiệu quả bên trong của doanh nghiệp tạo khó
khăn trong việc mở rộng, phát triển quy mô kinh doanh. Cùng là một chủ thể doanh
nghiệp như bao thành phần kinh tế khác nhưng doanh nghiệp nhà nước chịu quản lý
bởi nhiều cấp ngành trong mỗi lĩnh vực của mình. Chẳng hạn việc phân công, phân
cấp quyền và trách nhiệm của chủ sở hữu nhà nước được xác định rõ gồm 8 cơ quan,
trong đó có bộ quản lý ngành, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và đầu tư, Bộ Nội vụ, Bộ
Lao động thương binh và xã hội, ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cuối cùng mới đến Hội
đồng thành viên. Như vậy cơ chế vận hành của doanh nghiệp quá phức tạp, nặng
tính “xin-cho”, nhiêu khê dẫn đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước
thiếu linh hoạt, chủ động, điều này tất ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của
doanh nghiệp. Tiến sỹ Trần Hoàng Ngân, ủy viên ủy Ban Kinh tế Quốc hội cũng cho
rằng, sự ràng buộc quá nhiều sẽ làm ảnh hưởng đến sự chủ động của doanh nghiệp
nhà nước:“Doanh nghiệp nhà nước trong thời gian vừa qua bị quản lý bởi rất nhiều
cơ quan chủ quản. Chính vì nhiều cơ quan quản lý như vậy là chí phí gia tăng,
đặc biệt là phương án được duyệt lâu quá mà thời cơ là yếu tố quyết định trong
kinh doanh”.

