Câu chuyện đằng sau con số xuất siêu

(VOH) - Trong tháng 9 năm 2012, kim ngạch xuất khẩu cả nước đạt gần 9,5 tỷ USD. Có thể nói xuất khẩu của cả nước đã và đang duy trì ở mức khá cao, tuy nhiên theo các chuyên gia kinh tế thì đằng sau con số xuất siêu ấy đã phản ánh khó khăn chung của cả nền kinh tế...

Trong tình hình kinh tế thế giới còn bất ổn, kinh tế trong nước chưa thoát khỏi khó khăn, xuất khẩu cả nước vẫn duy trì ở mức khá cao, đạt 18,9% so với cùng kỳ năm 2011, tương đương với 13,3 tỷ USD. Đặc biệt là 9 tháng đầu năm, Việt Nam đã xuất siêu 34 triệu USD.

Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, trong tháng 9, kim ngạch xuất khẩu của cả nước đạt hơn 9,48 tỷ USD, kim ngạch nhập khẩu đạt khoảng 9,31 tỷ USD. Như vậy, trong tháng 9 cả nước tiếp tục xuất siêu hơn 170 triệu USD. Đây là tháng thứ tư liên tiếp cả nước xuất siêu và là tháng xuất siêu thứ 7 kể từ đầu năm đến nay.

Tỷ trọng xuất khẩu của các mặt hàng thô lại tăng lên trong năm 2012 thì đây là điều rất đáng ngại.ảnh minh họa: TBKTSG

Tuy nhiên, nhìn vào bức tranh xuất khẩu 9 tháng đầu năm 2012 có thể dễ dàng nhận thấy, ưu thế đang nghiêng hẳn về các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài FDI với giá trị ước đạt 46 tỷ USD, tăng 37,9%. Khối các doanh nghiệp FDI cũng giữ vị trí dẫn đầu trong việc tạo dựng giá trị xuất khẩu với tỷ trọng xuất khẩu FDI trong tổng kim ngạch xuất khẩu chiếm tới 55%. Trong đó các mặt hàng tăng trưởng xuất khẩu cao chủ yếu là: điện tử, máy tính và linh kiện; điện thoại các loại và linh kiện,...Riêng các mặt hàng này đã đóng góp hơn 5,4 tỷ USD vào mức tăng kim ngạch xuất khẩu, chiếm hơn 40% mức tăng tổng kim ngạch 9 tháng của cả nước.

Thứ trưởng Bộ Công thương Nguyễn Nam Hải, nhận định: “Chúng ta không còn nhập siêu nữa thì cũng có phấn khởi về mặt cán cân thanh toán, về ổn định tỷ giá ngoại tệ. Tuy nhiên, có một điều mà chúng ta cần hết sức quan tâm đó là vấn đề về nhập khẩu máy móc thiết bị và nhập khẩu một số nguyên vật liệu có giảm, điều này biểu hiện khó khăn trong sản xuất. Vấn đề này thì Bộ Công thương cũng như các cơ quan có liên quan cần tiếp tục quan tâm theo dõi, đây vừa là thuận lợi nhưng đồng thời cũng là khó khăn”.

Trong khi đó, khu vực kinh tế trong nước giảm cả nhập khẩu và xuất khẩu, đặc biệt là nhập khẩu giảm tới 7%. Điều này cho thấy khu vực kinh tế trong nước vẫn còn gặp khó khăn trong sản xuất và tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm. Ngoài ra, nguyên nhân khiến hoạt động xuất khẩu của khu vực doanh nghiệp trong nước gặp nhiều khó khăn theo các chuyên gia là do có sự gia tăng cạnh tranh từ các nước xuất khẩu khác trong khu vực và thế giới.

Đặc biệt, cơ cấu xuất khẩu trong 9 tháng qua đã có sự dịch chuyển, nhóm hàng công nghiệp nặng và khai khoáng tăng tỷ trọng trong tổng kim ngạch xuất khẩu. Trong khi đó, những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam lại giảm đi rất nhiều. Điển hình nhất là các mặt hàng nông sản. Trong số 9 mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ yếu (trừ mặt hàng cao su) những mặt hàng còn lại đều có giá xuất khẩu giảm. Ước tính giá giảm đã làm kim ngạch xuất khẩu của nhóm hàng này giảm đến 1,8 tỷ USD. Nhận định về sự chuyển dịch cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan tỏ ra lo ngại: “Nhà nước đã có chủ trương giảm dần mức độ xuất khẩu tài nguyên thô. Thế nhưng, tỷ trọng xuất khẩu của các mặt hàng thô lại tăng lên thì đây là điều rất đáng ngại. Khía cạnh đáng ngại nữa là những mặt hàng mà chúng ta coi là lợi thế cạnh tranh của Việt Nam là những mặt hàng công nghiệp nhẹ, chế biến thì lâu nay tổng trị giá các mặt hàng đó đóng góp cho xuất khẩu Việt Nam đều vượt dần lên qua hàng năm thì trong thời gian này lại giảm xuống. Đây là điều đáng lo ngại vì chúng ta còn muốn vươn lên nữa để đạt được giá trị gia tăng cao hơn chứ không phải là làm cho tỷ trọng của nó giảm đi như thế này”.

Bên cạnh đó, theo các chuyên gia kinh tế thì đằng sau con số xuất siêu đã phản ánh khó khăn chung của cả nền kinh tế. Nhìn chung, mục đích nhập khẩu của Việt Nam vẫn chủ yếu phục vụ sản xuất. Các năm từ 2005- 2011, nhập khẩu cho sản xuất chiếm khoảng trên dưới 90% tổng kim ngạch nhập khẩu. Trong khi đó, nhập khẩu trực tiếp cho tiêu dùng chỉ chiếm từ 7 đến 9 %. Ngoài ra, xuất khẩu của Việt Nam phần lớn là gia công nên nhập khẩu liên tục giảm cũng là dấu hiệu cho thấy nền kinh tế vẫn còn trong giai đoạn đình trệ. Chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh, cho rằng: “Xuất siêu là một tín hiệu tốt đẹp, nhưng cái mặt tốt đẹp đấy không phản ánh bản chất năng lực cạnh tranh cao hơn của nền kinh tế mà nó phản ánh một sự trì trệ của khu vực doanh nghiệp trong nước. Doanh nghiệp trong nước thì mất thị phần, giảm đơn đặt hàng”.

Có thể nói, xuất siêu là mục tiêu hàng đầu của các nền kinh tế hướng xuất khẩu. Theo các chuyên gia kinh tế thì xuất siêu của Việt Nam thời điểm này chỉ là hiện tượng nhất thời. Để hướng tới xuất siêu bền vững, cần tiến hành nhiều biện pháp đồng bộ như hạn chế nhập những mặt hàng xa xỉ hoặc hàng trong nước có thể sản xuất được, phát triển các mặt hàng có tiềm năng thành những mặt hàng chủ lực, ưu tiên là các mặt hàng công nghệ cao, có giá trị lớn để giảm dần xuất khẩu thô.

Chuyên gia kinh tế Nguyễn Minh Phong, đề xuất: “Thực tế, chúng ta chỉ xuất siêu vững chắc khi mà Việt Nam có nền tảng đổi mới, thích nghi cao với thị trường và có danh mục xuất khẩu chủ lực với thương hiệu ổn định. Chúng ta phải có được chiến lược thị trường linh hoạt, mềm dẻo vừa giữ được thị trường cũ vừa mở mang thị trường mới, đặc biệt là khai thác phân khúc chúng ta có nhiều tiềm năng. Hơn nữa, chúng ta chỉ xuất siêu được khi có cơ sở sản xuất ổn định. Bên cạnh đó, Việt Nam phải làm tất cả để trở thành một nền kinh tế thị trường thực sự. Cuối cùng tư duy của người tiêu dùng trong nhập khẩu cũng phải thay đổi”.

Trong bối cảnh kinh tế thế giới và cả nước còn nhiều khó khăn thì xuất siêu là một điểm sáng đáng ghi nhận. Song, vẫn còn đó nhiều vấn đề mà các doanh nghiệp xuất khẩu, các nhà quản lý cần phải thay đổi và hoàn thiện để có thể hướng đến xuất siêu bền vững./.