Hiệp định TPP - ngành da giày và những vấn đề về quy tắc xuất xứ hàng hóa

Bài 1: Giải quyết bài toán xuất xứ hàng hóa

(VOH) - Ngành da giày Việt Nam đang đón nhận Hiệp định hợp tác Kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương với nhiều kỳ vọng lớn, khi đây là ngành kinh tế xuất khẩu mũi nhọn, đóng góp từ 7-8% kim ngạch xuất khẩu cả nước. Tuy nhiên, vấn đề về quy tắc xuất xứ hàng hóa được đặt ra trong hiệp định, đã bắt buộc da giày Việt Nam phải có những bước chuyển mình, để được hưởng những ưu đãi về thuế suất trong khu vực nội khối…


Xưởng sản xuất giày da tại TPHCM. Ảnh minh họa

Quy tắc xuất xứ hàng hóa trong Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) được hiểu là: các sản phẩm xuất khẩu từ một thành viên của TPP sang các thành viên khác đều phải có xuất xứ "nội khối". Như vậy, những ngành nào, sản phẩm nào, sử dụng các nguyên liệu của các nước thứ ba, ngoài thành viên TPP đều không được hưởng các ưu đãi thuế suất 0%.

Thực hiện quy tắc xuất hàng hóa đối với các hiệp định thương mại tự do khác, chúng ta chỉ có thể đáp ứng quy tắc chuyển đổi mã số hàng hóa. Chẳng hạn, để sản xuất được mũ giày thì chúng ta được phép nhập khẩu tất cả các nguyên phụ liệu mà không trùng với mã HS của mũ giày đó, từ bên ngoài khu vực mậu dịch tự do. Hơn 50% doanh nghiệp chúng ta hiện đã đáp ứng được nguyên tắc này. Tuy nhiên, trong hiệp định lại có thêm quy định về hàm lượng giá trị khu vực; nghĩa là sản phẩm phải đạt tỷ lệ nội địa hóa từ 55% tổng giá trị trở lên. Doanh nghiệp chỉ được phép nhập tối đa 45% nguyên vật liệu từ các nước ngoài khối để sản xuất ra 1 sản phẩm, kể cả chi phí gia công. Đây là một thách thức lớn đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Ông Lê Xuân Dương, Giám đốc Trung tâm hỗ trợ xuất khẩu Cục Xúc tiến thương mại cho biết: Đối với giày dép dự kiến sẽ giảm được 250 ngàn đôla thuế vào Mỹ. VN là nước xuất khẩu lớn thứ 2 sau Trung Quốc, như vậy là sẽ có lợi thế cạnh tranh khi xuất khẩu vào các nước TPP. Nếu quy chuẩn, quy tắc về xuất xứ yêu cầu nguyên phụ liệu phải xuất xứ trong các nước TPP thì vô hình chung ngành da giày cũng sẽ bị ảnh hưởng lớn, vì hầu như là đến 60- 70% nguyên phụ liệu chúng ta nhập khẩu từ Trung Quốc. Rõ ràng hiệp định này đối với chúng ta cũng không có mấy tác dụng.


Từ đầu năm đến nay, ngành da giày đã đạt giá trị xuất khẩu trên 4 tỷ USD. Thị trường xuất khẩu chính vẫn là EU và Hoa Kỳ (chiến trên 70% tổng sản lượng xuất khẩu của VN), tiếp theo là thị trường Nhật Bản. Để tận dụng được ưu đãi về thuế suất từ Hiệp định TPP mang lại, ngành da giày Việt Nam cần có những định hướng phát triển thích hợp. Xuất phát từ xu hướng đàm phán trong các hiệp định thương mại tự do - phát triển chuỗi cung ứng sản xuất trong nội khối -ông Vương Đức Anh, Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương, thành viên tham gia trực tiếp các phiên đàm phán của hiệp định TPP đề xuất: "Liệu chúng ta có nên nghĩ đến câu chuyện đầu tư phát triển nguyên phụ liệu trong nước để chủ động trong hoạt động sản xuất, xuất khẩu của mình và chúng ta có thể nghĩ đến câu chuyện đầu tư theo ngành dọc. Chúng ta tự sản xuất nguyên phụ liệu để thay đổi dần chuỗi cung ứng hiện tại. Chúng ta hiện phải nhập khẩu từ các nước không nằm trong khu vực FTA, thì bây giờ chúng ta nhìn thấy bức tranh tương lai, trong FTA chúng ta được hưởng lợi như vậy thì cần có sự điều chỉnh về chuỗi cung ứng của chúng ta hiện tại hay không".


Đồng quan điểm trên, Tiến sĩ Lương Văn Lý cho rằng: Cuộc chơi sắp tới của chúng ta sẽ là cuộc chơi hết sức khó khăn, đặc biệt là sự cạnh tranh sẽ khốc liệt đối với các doanh nghiệp da giày Việt Nam. Bởi chúng ta vẫn chưa xây dựng được công nghiệp hỗ trợ cho ngành da giày và dệt may, hầu hết các phụ kiện đều phải nhập khẩu. Cho nên, nếu thực hiện nguyên tắc xuất xứ hàng hóa theo TPP, thì rõ ràng chúng ta không có đủ cơ sở để khẳng định mặt hàng mà chính chúng ta sản xuất mang nguồn gốc Việt Nam. Tiến sĩ Lương Văn Lý đề nghị: "Thực ra thì bây giờ căn cơ nhất là chúng ta phải cấp tốc, bởi thời gian không còn nhiều chúng ta phải khẩn trương xây dựng ngành công nghiệp phụ trợ để hỗ trợ cho ngành may mặc cũng như các ngành khác. Đó là giải pháp căn cơ nhất. Chúng ta có thể có những giải pháp tạm thời ví dụ như thương lượng với các nước TPP để có thời gian, gọi là thời gian ân huệ nhất định để giúp điều kiện thời gian cho công nghệ phụ trợ đó phát triển. Và tôi nghĩ rằng phát triển ngành công nghệ phụ trợ là căn cơ nhất, không thể có một giải pháp nào khác tốt hơn”.


Xây dựng ngành công nghiệp phụ trợ là giải pháp được đồng tình nhiều nhất. Tuy nhiên, đây vẫn là con đường dài. Riêng các doanh nghiệp sẽ xác định chiến lược kinh doanh theo con đường nào: tận dụng lợi thế sân nhà, nguồn nguyên liệu sẵn có, để chiếm lĩnh thị trường nội địa hay phát huy thế mạnh, tạo thương hiệu đẩy mạnh xuất khẩu? Dù theo định hướng nào đi chăng nữa thì khi ta tham gia những hiệp định quốc tế như TPP, đòi hỏi các doanh nghiệp phải thông suốt quy định, nắm bắt kịp thời những lợi thế, từ đó có những cố gắng thì mới tránh được những thiệt hại.

(Còn tiếp)