![]() |
|
Về trồng trọt, vùng ĐBSCL cây lúa vẫn là số 1. |
Hiện nay, trong nền kinh tế thị trường, và khi nước ta đã là thành viên của WTO, ngành nông nghiệp chịu nhiều áp lực do khả năng cạnh tranh cao. Điều đó có nghĩa là trong sân chơi này, đòi hỏi phương thức và tư duy sản xuất của người nông dân phải thay đổi. Không thể làm theo kiểu chạy theo phong trào, thích gì làm nấy, hay trồng chơi ăn thiệt nữa mà phải đầu tư kỹ thuật bài bản và hướng đến những gì mà thị trường thế giới cần. Cho nên không quá khó hiểu khi nhiều nơi một số mô hình lúc mới phát hiện thường có hiệu quả cao, nhưng sau 1 thời gian nó lại chìm lỉm vì tính cạnh tranh thấp. Về điều này, ông Cao Đức Phát – Bộ trưởng Bộ NN & PTNT cho biết:
Bộ NN & PTNT cũng cho rằng, gần đây nhiều ngành hàng nông sản có thế mạnh như thuỷ sản, lúa gạo, cà phê, hạt tiêu, hạt điều... rơi vào tình trạng thị trường lúc thừa, lúc thiếu, người nông dân chủ yếu chạy theo tín hiệu thị trường ngắn hạn, chuyển dịch sản xuất tự phát từ ngành hàng nọ sang ngành hàng kia, gây lãng phí lớn cho xã hội. Nếu không khắc phục yếu điểm này chẳng những tăng trưởng sản xuất nông nghiệp bị đe doạ mà ổn định kinh tế xã hội cũng bị thách thức.
Theo Phân viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp, thị trường là một thể thống nhất chứ không tách riêng từng khu vực nên định hướng phát triển ngoài việc dựa vào thế mạnh từng vùng còn phải quan sát thông tin nhu cầu của thị trường. Cụ thể, về trồng trọt, vùng ĐBSCL cây lúa vẫn là số 1. Vì đây là một trong những vùng trồng lúa tốt nhất trên toàn thế giới. Kế đến là những loại cây ăn trái đặc sản có giá trị kinh tế cao như: bưởi, xoài cát, vú sữa, hoặc thanh long. Về thủy sản, chủ lực vẫn là cá da trơn, con tôm cũng như cá nước ngọt gắn với mô hình lúa cá. Riêng mảng chăn nuôi, ngoài nuôi heo siêu nạc còn có nuôi vịt siêu thịt, vịt chuyên trứng, bò thịt lai sin. Đối với các vùng như Tây Nguyên và Đông Nam bộ, theo Thạc sĩ Hoàng Quốc Tuấn - Phân viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp thì:
Quan trọng hơn, trước diễn biến dịch bệnh trên cây trồng - vật nuôi ngày càng khó đoán do những biến đổi bất thường của thời tiết, việc chọn hướng sản xuất nông nghiệp an toàn là điều phải nghĩ tới. Thật vậy, thời gian qua ở lĩnh vực chăn nuôi, các đối tượng gia cầm, gia súc luôn đứng trước nguy cơ bị tấn công bởi dịch bệnh H5N1, lở mồm long móng hay heo tai xanh. Thế nên, ông Cao Đức Phát – Bộ trưởng Bộ NN & PTNT hoàn toàn có lý khi cho rằng:
Thực tế thời gian qua cho thấy, có những mô hình thoạt đầu cứ nghĩ chỉ có những đại gia lắm của nhiều tiền mới làm nổi nhưng qua tìm hiểu chúng tôi mới biết họ cũng đi lên từ những người nông dân “chân lắm tay bùn”. Điển hình như những nông dân nuôi gà lạnh. Đây là mô hình với số vốn đầu tư ban đầu rất cao, phải tầm 500 triệu đồng trở lên. Tuy nhiên, bằng cách làm bài bản, có khoa học họ đã thành công. Nông dân Tống Văn Hướng, nhà ở xã Minh Hòa, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương đang nuôi trên 100.000 con gà với diện tích chuồng trại là 9.000 m2 chia sẻ kinh nghiệm:
Thạc sĩ Hoàng Quốc Tuấn thuộc Phân viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp khẳng định, chi phí đầu tư cho việc nuôi gà lạnh ban đầu rất cao nhưng mức độ thành công của nó lại càng lớn hơn gấp nhiều lần so với nuôi hở. Hiện tại, một số nước tiên tiến trên Thế giới với mô hình nuôi gà lạnh, họ có thể đạt năng suất 20 kg trên 1 đời con gà, còn các chủ trại nuôi gà lạnh ở nước ta cao nhất mới là 12 kg. Trong khi bình quân năng suất nuôi gà hở tính chung của cả nước chỉ là 2,2kg trên 1 đời con gà. Để dễ hiểu, anh Tống Văn Hướng nói thêm:
Vẫn biết vốn là nỗi lo canh cánh khi người nông dân muốn đầu tư chuyển đổi sản xuất. Nhưng rõ ràng nếu họ biết chọn hướng đi đúng, cũng như biết liên kết lại để tạo nên sức mạnh thì vốn không quá để bận tâm. Bởi vốn thông thường được giải quyết qua nhiều kênh. Trong đó, một phần vốn là từ sự đóng góp của các thành viên khi tham gia xây dựng mô hình, mặt khác nữa là huy động những nguồn lực của địa phương rồi thứ ba là vay vốn của ngân hàng. Thời gian vừa qua Chính phủ rồi Ngân hàng Nhà nước VN cũng đã đưa ra những chính sách để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các hợp tác xã tiếp cận và vay vốn từ kênh tín dụng của các ngân hàng quốc doanh. Do đó tại sao bà con không nghĩ đến chuyện liên kết hình thành các tổ hợp tác, hay lớn hơn là hợp tác xã để giải quyết đầu vào khi đã tìm ra được mô hình trồng trọt- chăn nuôi hợp lý?
Trường Duy

