
Từ tháng 10/2014, Việt Nam được xuất khẩu thêm nhiều mặt hàng nông sản vào thị trường Mỹ (ảnh minh họa: giacaphe)
Tin vui từ Bộ Nông nghiệp Mỹ quyết định từ tháng 10 vừa qua, Việt Nam được xuất khẩu thêm nhãn, vải và có thể sẽ tiếp tục là vú sữa, xoài... Cánh cửa của thị trường khó tính bậc nhất này dường như đã rộng mở cho nhiều nông sản, nhưng không có nghĩa là lĩnh vực xuất khẩu nông sản Việt Nam đã dễ thở hơn, bởi trong cùng thời gian đó một loạt mặt hàng xuất khẩu chiến lược của chúng ta lại bị thu hẹp thị trường... Ông Võ Văn Quyền – Vụ trưởng Vụ Thị trường trong nước, nhấn mạnh: “Câu chuyện giải quyết thị trường phải được chủ động bởi doanh nghiệp và phải được kết nối thành chuỗi từ doanh nghiệp có thị trường đến người nông dân; phải làm ra sản phẩm mà thị trường cần và các Bộ ngành: Bộ NN&PTNT, Bộ Công thương… theo chức năng của mình hỗ trợ xây dựng môi trường pháp lý, hỗ trợ trong việc xúc tiến, tìm kiếm thông tin xúc tiến mặt hàng trong các hoạt động chức năng của mình”.
Trong những năm qua, kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng nông lâm thủy sản luôn chiếm tỷ trọng gần 20% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của cả nước. Một số mặt hàng nông sản của Việt Nam hiện chiếm giữ vị thế cao trên thị trường quốc tế như hạt điều, hạt tiêu, gạo, cà phê… Tuy vậy, không thể phủ nhận thực tế Trung Quốc hiện cũng là nhà nhập khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam khi chiếm trên 60% tổng lượng gạo xuất khẩu của cả nước và chiếm khoảng 1/3 tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả cả nước. Chính vì sự phụ thuộc quá lớn vào thị trường Trung Quốc nên thời gian qua, nông sản Việt Nam nhiều lần phải lao đao bởi tính chất bất ổn và nhiều rủi ro từ thị trường đông dân nhất thế giới này. Tiến sĩ Lê Văn Bảnh – Viện trưởng Viện Lúa ĐBSCL nêu ý kiến: “Các doanh nghiệp chưa bao giờ tới đặt hàng cho Bộ Nông nghiệp cũng như đặt hàng cho Viện lúa nên xài những loại giống gì để được loại gạo xuất khẩu tốt. Khi bán được thì đó là công của mấy ông Thương mại doanh nghiệp. Khi bán không được thì nói sao mấy ông trồng nhiều giống quá. Nhưng thực chất nếu doanh nghiệp đầu tư vùng nguyên liệu và phối hợp với các nhà khoa học làm được giống cho thuần; tiếp theo là nông dân sản xuất theo yêu cầu của doanh nghiệp... như vậy mới đạt hiệu quả”.
Rõ ràng, nông nghiệp Việt Nam cần có đột phá trong lựa chọn ngành hàng chiến lược, sản xuất theo chuỗi giá trị tạo ra những sản phẩm thị trường cần dựa trên cơ sở chọn lựa từ tiềm năng, thế mạnh của từng địa phương. Muốn thực sự phát triển chuỗi giá trị nông sản, cần xây dựng và phát huy mối quan hệ chặt chẽ giữa sản xuất và tiêu thụ, trong đó khâu thương mại, marketing đặc biệt quan trọng. Ngành nông nghiệp cần tổ chức quảng bá sản phẩm theo hướng tăng dần tỷ trọng các mặt hàng nông lâm thủy sản chế biến ở phân khúc giá trị gia tăng cao sang các thị trường “khó tính” như Mỹ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia… GS-TS Võ Tòng Xuân, nhận định: “Vai trò doanh nghiệp là vai trò đầu tàu quan trọng nhất. Doanh nghiệp của đầu ra sẽ biết tìm kiếm thị trường ở đâu, sau đó trở về tổ chức vùng nguyên liệu, rồi mới nhờ các nhà khoa học đưa giống gì, các nhà khoa học sẽ cùng với bà con nông dân ra được một cái quy trình để khi ra được nguyên liệu thì doanh nghiệp sẽ thu mua nguyên liệu này, chế biến nó và tiêu thụ”.
Hướng tới mục tiêu tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng nông sản, ngành nông nghiệp cần thay đổi cách tiếp cận, duy trì và phát triển những thị trường truyền thống thông qua việc nâng cao chất lượng và giá trị các mặt hàng nông sản mà Việt Nam có lợi thế xuất khẩu. Mặt khác phải tăng cường đầu tư cho công nghệ chế biến sau thu hoạch các mặt hàng nông sản. Doanh nghiệp cần tăng cường đầu tư cho công nghệ chế biến các mặt hàng nông sản trong nước. Theo đó, doanh nghiệp là đầu tàu trực tiếp tiếp nhận, áp dụng công nghệ cao vào quy trình sản xuất. Người nông dân tham gia với vai trò gia công, cung cấp nguyên liệu đầu vào cho doanh nghiệp. PGS-TS Nguyễn Văn Sánh – Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển ĐBSCL đưa ra những phân tích rất “sát sườn” thực tế: “Muốn cạnh tranh, phát triển thị trường cho tốt thì mình phải thực thi nguyên tắc 4 đúng: Đầu tiên là chất lượng phải đồng nhất; Thứ 2 là lượng phải đủ; Thứ 3 là thời điểm đúng, thị trường cần để có giá; Và thứ 4 là giá thành phải cạnh tranh. Thấy nhiều nông dân sản xuất nhỏ lẻ, chuỗi giá trị sản phẩm tăng lên nhưng nó rất là rời rạc”.
Đứng từ góc độ này để thấy: việc tìm đầu ra cho nông sản Việt Nam bước vào thị trường quốc tế là bài toán khó, không dễ giải quyết trong “một sớm một chiều”.
Ở góc độ khác, trong hoạt động xuất khẩu, công tác xúc tiến thương mại luôn được xem là khâu then chốt trong việc phát triển thị trường và phải được thực hiện cả ở tầm vĩ mô và vi mô. Theo đó, doanh nghiệp cần chủ động hơn trong việc khai thác các thị trường mới để tránh rủi ro khi phụ thuộc quá nhiều vào một thị trường như Trung Quốc. Trong đó, các thị trường mới nổi ở khu vực Trung Đông, châu Phi với nhu cầu nhập khẩu rất lớn các mặt hàng nông sản của Việt Nam là cơ hội cho các doanh nghiệp xuất khẩu. Ông Đoàn Xuân Hòa – Phó Cục trưởng Cục Chế biến nông lâm thủy sản và Nghề muối khẳng định: “Nông lâm, thủy sản Việt Nam tăng trưởng khoảng 12,8%…Trong chủ trương tái cơ cấu thì việc lớn nhất là tái cơ cấu thị trường. Cố gắng sản xuất ra sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn và tìm kiếm thị trường có ưu thế tốt hơn và đặc biệt là tránh lệ thuộc vào một thị trường”.
Bộ NN&PTNT đã và đang chỉ đạo các cơ quan chức năng rà soát các thị trường và phối hợp với các bộ, ngành liên quan làm việc với các hiệp hội, doanh nghiệp để tháo gỡ khó khăn. Bên cạnh đó, hỗ trợ, tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất; Rà soát và thông tin kịp thời về tình hình thị trường để có sự điều chỉnh phù hợp quy mô sản xuất. Bộ ngành chức năng cùng các địa phương cần tận dụng hiệu quả chương trình tái cơ cấu nông nghiệp của Chính phủ. Qua đó, ngành nông nghiệp Việt Nam sẽ có những bước chuyển mình mạnh mẽ để nhanh chóng đưa nước ta trở thành một trong những quốc gia dẫn đầu về sản lượng, giá trị và thương hiệu các sản phẩm nông sản trong thời gian tới. /.
