Tình hình xuất khẩu lao động… không mấy khả quan

(VOH) - Chỉ thị 41-CT/TW ngày 22/9/1998 của Bộ Chính trị về xuất khẩu lao động và chuyên gia khẳng định “xuất khẩu lao động và chuyên gia là một hoạt động kinh tế - xã hội góp phần phát triển nguồn nhân lực, giải quyết việc làm, tạo thu nhập và nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động, tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước”.

Tình hình xuất khẩu lao động… không mấy khả quan

 

(VOH) - Chỉ thị 41-CT/TW ngày 22/9/1998 của Bộ Chính trị về xuất khẩu lao động và chuyên gia khẳng định “xuất khẩu lao động và chuyên gia là một hoạt động kinh tế - xã hội góp phần phát triển nguồn nhân lực, giải quyết việc làm, tạo thu nhập và nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động, tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước”.

 

 

Lao động VN xuất khẩu. Ảnh: VNChanel

Có thể xem đây là chủ trương quan trọng, có ý nghĩa của Đảng và Nhà nước. Trong bối cảnh nền kinh tế nước ta bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, việc đưa lao động và chuyên gia ra nước ngoài làm việc lại càng có ý nghĩa hơn. Nhưng thực tế cho thấy nguồn lao động nước ta phần nhiều yếu về ngoại ngữ, tay nghề, kém về tác phong công nghiệp nên chưa đáp ứng được hết những yêu cầu, đòi hỏi của thị trường lao động thế giới.

 

Vừa qua, tại phiên họp toàn thể lần thứ 16 của Ủy ban Đối ngoại Quốc hội tổ chức tại TPHCM - bàn về công tác quản lý hoạt động xuất khẩu lao động năm 2008 và quý 1 năm 2009, Bộ LĐTB & XH đã cho biết một số kết quả: "Trong 3 năm, từ 2006 đến 2008, gần 250.000 lao động được đưa đi làm việc ở nước ngoài, bình quân mỗi năm khoảng 83.000 người, chiếm 5% tổng số lao động được giải quyết việc làm". Tuy nhiên theo chúng tôi, con số 5% chưa thể làm thỏa lòng những nhà hoạch định chính sách và hơn hết là vẫn chưa làm thỏa lòng số đông lực lượng lao động. Những người trong độ tuổi lao động ở nông thôn hay vùng dân tộc thiểu số vốn là đối tượng được ưu tiên trong xuất khẩu lao động, nhưng việc họ tiếp cận thông tin về tuyển dụng, đào tạo còn gặp rất nhiều khó khăn, bởi chính họ không nghe Đài, đọc Báo. Mặt khác một số cơ quan chức năng, cụ thể như là Bộ Lao Động Thương Binh và Xã Hội cùng các đơn vị trực thuộc chưa phổ biến tốt thông tin đến với đối tượng ưu tiên đi lao động hợp tác ở nước ngoài.

 

Từ việc thiếu thông tin đã dẫn đến sự không đồng đều trong tỉ lệ tuyển chọn người đi xuất khẩu lao động giữa thành thị và nông thôn. Và hẳn nhiên ở đây có một nghịch lý, người nghèo vẫn là người ít có cơ hội được tuyển dụng, đào tạo nghề và hỗ trợ ban đầu để có được một công ăn việc làm ổn định. Đối với thị trường xuất khẩu lao động của nước ta trong những năm qua, chúng tôi còn thấy một số hạn chế kéo dài, đó là công tác quản lý nhà nước về tuyển chọn lao động ở nhiều địa phương chưa chặt chẽ, dẫn đến hiện tượng một số tổ chức, cá nhân không có chức năng xuất khẩu lao động, nhưng vẫn đứng ra thu tiền bất chính của người lao động. Bởi vậy, ước mơ đổi đời của người dân nghèo bằng việc đi lao động ở nước ngoài là rất xa xôi. Hạn chế trong khâu tuyển dụng là vậy. Còn về công tác đào tạo bất cập cũng không tránh khỏi. Nhìn vào thực trạng người lao động của nước ta khi ra nước ngoài làm việc đa phần kém về tay nghề, ngoại ngữ; hiểu biết về pháp luật, phong tục tập quán của nước sở tại cũng kém. Điều này càng thấy rõ công tác đào tạo cho người lao động ra nước ngoài làm việc của ta chưa chú trọng nhiều đến chất lượng.

 

Đối với loại hình lao động có thu nhập cao mà thị trường lao động thế giới đang cần là lao động trong các ngành công nghệ cao, trong các lĩnh vực thương mại, khách sạn, đòi hỏi người lao động phải vững tay nghề, sử dụng thông thạo ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh, thì đa số lao động của nước ta đều chưa đạt tới.

 

Có một thực tế đáng ghi nhận, các lao động Việt Nam khi ra nước ngoài làm việc, họ đã đóng góp ngoại tệ cho đất nước, góp phần thúc đẩy nhanh sự tăng trưởng kinh tế chung của cả nước. Chưa kể là sau khi hết thời hạn lao động trở về nước, họ đã tích lũy được khá nhiều kỹ năng, kinh nghiệm. Tiếc là chúng ta vẫn chưa chú trọng đến khâu tuyển dụng lại, bố trí họ vào làm tại các cơ quan, xí nghiệp. Điều đó đồng nghĩa với việc chúng ta đã và đang lãng phí chất xám của những lao động xuất khẩu.

 

Rõ ràng những năm qua, việc phát triển nguồn lao động của nước ta đi làm việc ở nước ngoài còn nhiều hạn chế. Vấn đề còn lại và rất đáng suy nghĩ ở đây chính là việc các Bộ- Ngành cần có sự điều chỉnh và phối hợp lại với nhau một cách chặt chẽ và thường xuyên để tìm ra những giải pháp hữu hiệu nhất trong vấn đề xuất khẩu lao động, tránh đừng để lao động của ta phải xếp hàng dự bị trong tuyển dụng, so với lao động của nhiều nước khác. Điều căn bản và ý nghĩa nhất, chúng ta cần có lộ trình xây dựng thương hiệu mạnh về nguồn lao động xuất khẩu của Việt Nam. Làm những điều này thì chắc chắn, mục tiêu “phát triển nguồn nhân lực, giải quyết việc làm, tạo thu nhập và nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động, tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước” mới được hoàn thành./.

 

Diệu Phương