Nhà văn, nhà thơ Lam Giang: “Phải viết đúng, không được xóa nhòa quá khứ”

(VOH) - Hơn 40 năm trôi qua nhưng những kí ức chiến tranh luôn là nỗi day dứt khôn nguôi trong lòng những người lính “cầm bút”, thôi thúc họ không ngừng sáng tạo và tái hiện những trang sử hào hùng của dân tộc.

Những xúc cảm về cuộc chiến đã đi qua một lần nữa thúc đẩy Thượng tá quân đội, nhà văn, nhà thơ Lam Giang cho ra đời tiểu thuyết “Vùng trắng”; tác phẩm được trao giải B - giải cao nhất về văn học trong Cuộc vận động sáng tác văn học nghệ thuật kỷ niệm 40 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và 125 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa qua.

Tiểu thuyết “Vùng trắng” của Lam Giang tái hiện một giai đoạn lịch sử chiến đấu bi hùng trên vùng vành đai bán nguyệt với chiều sâu khoảng 60km bảo vệ Sài Gòn. Khi ấy, chính quyền Mỹ - Ngụy đã biến Củ Chi - Trảng Bàng thành “vùng trắng”, vùng tự do hủy diệt, tự do oanh kích, nhất là từ sau Tết Mậu Thân 1968. Hơn 3 năm (1968-1970) giữ vùng trung tuyến - bàn đạp tiến công Sài Gòn từ hướng Tây Bắc; Trung đoàn 268 đã chiến đấu anh dũng, hoàn thành nhiệm vụ lịch sử trong giai đoạn khốc liệt nhất của chiến trường vùng ven Sài Gòn - Gia Định. Gần 1.700 cán bộ, chiến sĩ đã ngã xuống ở “vùng trắng” này.

Du kích Củ Chi - Ảnh: Cuchi.HCMcity.

Phóng viên Đài TNND TPHCM trò chuyện với nhà văn, nhà thơ Lam Giang xung quanh tiểu thuyết “Vùng trắng” cũng như lắng nghe những nhận định của ông về đề tài chiến tranh cách mạng trong văn học Việt Nam hiện nay.

* Thưa ông, tiểu thuyết “Vùng trắng” gắn với một giai đoạn chiến đấu khốc liệt mà ông từng tham gia từ năm 1968 - 1971. Nhưng tại sao phải hơn 40 năm sau, ông mới cho ra đời tác phẩm này ?

Nhà văn, nhà thơ Lam Giang: Sau chiến tranh, đa số tôi viết về các hồi ức, những kỉ niệm về chiến tranh vì vốn sống của mình chủ yếu là chiến trường. Tôi viết về vùng Củ Chi - Trảng Bàng rất nhiều nhưng điều nung nấu và trăn trở nhất của tôi là phải viết một cái gì đó về Trung đoàn 268 bám trụ kiên cường và chiến đấu vô cùng anh dũng. Sau chiến tranh, có một cái gì đó thôi thúc nhưng tôi không thể viết được bởi vì công việc của một sĩ quan quân đội rất bề bộn nên việc viết về vùng đất này cứ âm ỉ, nung nấu trong người rất nhiều năm như một món nợ chưa trả được. Đến năm 2013, khi đi dự trại viết ở Vũng Tàu của Hội Nhà văn Thành phố, tôi quyết đặt bút viết “Vùng trắng”, viết một mạch như thế cho đến khi hoàn thành là khoảng 4 tháng.

* Đối với ông, khó khăn lớn nhất khi thực hiện tiểu thuyết này là gì ?

Nhà văn, nhà thơ Lam Giang: Muốn tái hiện tất cả giai đoạn lịch sử đó thì đòi hỏi phải công phu và khó nhất là chọn thể loại. Tôi chọn thể loại tiểu thuyết vì nó vừa thực mà cũng vừa hư cấu để làm cho tác phẩm có màu sắc hơn, người đọc dễ đọc hơn, có thể cảm nhận được chiều sâu của cuộc chiến đấu nhiều hơn. Tôi bám theo lịch sử của Trung đoàn để viết, và khi Trung đoàn không còn thì tôi cũng kết thúc tiểu thuyết ở đó luôn. Nhiều người cũng muốn tôi viết thêm các nhân vật đó sau này trở lại đời thường thì sống thế nào nhưng mà tôi không đủ điều kiện, không đủ sức lực để mà viết thêm, chỉ chấm dứt ở giai đoạn mà kết thúc được vai trò lịch sử của Trung đoàn, đó là điều quan trọng nhất.

* Sau tiểu thuyết “Vùng trắng”, ông đang ấp ủ thực hiện những tác phẩm nào mới ?

Nhà văn, nhà thơ Lam Giang: Tới đây tôi sẽ có một thiên hồi kí - một tự truyện viết từ khi mình còn ở nhà cho đến thời điểm hiện nay, gồm khoảng 9 - 10 chương. Tôi cố gắng dẫn dắt người đọc qua các thời điểm, các giai đoạn lịch sử mà mình đã trải qua. Đặc biệt là những chương viết về quân đội là những chương rất khó viết, khó thể hiện vì rất dễ động chạm nhưng tôi sẽ cố gắng viết có liều lượng. Hiện nay, tôi đã viết xong chương đầu về cuộc hành trình vượt Trường Sơn: "Vào Nam thăm thẳm đường rừng".

* Là người thành công với nhiều tác phẩm gắn với đề tài chiến tranh cách mạng, ông nhận định như thế nào về mảng đề tài này trong đời sống văn học Việt Nam hiện nay ?

Nhà văn, nhà thơ Lam Giang: Đề tài chiến tranh cách mạng là một điểm nhấn của lịch sử mà những người trong cuộc và cả những người sau này cũng không đủ sức truyền tải hết, cần phải có độ lùi về thời gian để có cái nhìn toàn cuộc. Thế hệ trẻ thì không qua chiến tranh, chỉ viết qua tư liệu hoặc qua những nhân chứng thì thường không sống động, họ không thể viết được những tiểu thuyết chiến tranh tầm cỡ nữa mà chỉ viết được những góc độ nào đó của người lính chứ không thể viết được như các thế hệ nhà văn “cầm súng”. Thế mạnh của lớp trẻ hiện nay là viết về cuộc sống đời thường, về kinh tế thị trường. Cái hay khi viết về chiến tranh mà mọi người có thể chấp nhận được là viết đúng sự thật, không thêu dệt, không quá cường điệu về sự ác liệt của cuộc chiến, cũng không quá hạ thấp hay quá cường điệu hình tượng người lính. Tôi nghĩ những người viết cần phải phân biệt rạch ròi lịch sử là lịch sử; phải viết đúng quá khứ, không được lãng quên và không được phép xóa nhòa.

* Đối với những cây bút trẻ trên văn đàn hiện nay, ông có góp ý cũng như những kì vọng gì cho lực lượng kế thừa này ?

Nhà văn, nhà thơ Lam Giang: Lớp trẻ có lợi thế ngoại ngữ, họ tiếp thu được cả văn học nước ngoài, phương Tây, phương Đông. Họ có thể viết, đi sâu vào cuộc sống thường nhật và lôi cuốn người ta vào những tiểu thuyết tình cảm, xã hội, truyện ngắn, bút kí,... Lớp trẻ đóng góp vào văn đàn rất nhiều; tuy nhiên để thay thế dần lớp nhà văn đi trước thì lớp trẻ phải có được định hướng về văn học mà trong đó trực tiếp là sự định hướng từ các hội nhà văn, các hội văn học nghệ thuật. Những tác phẩm của người trẻ không chỉ viết về hiện tại mà có thể quay lại kết hợp quá khứ với hiện tại để làm nên tầm vóc của tác phẩm, tạo ra “tiếng vang” và giúp ích cho cuộc sống. Theo tôi, sứ mạng quan trọng của nhà văn trẻ là phải chuyển tải được những vấn đề của thời đại mới nhưng cũng không được quên quá khứ lịch sử dân tộc.

Cám ơn ông!