Không chỉ là “vàng xanh” cho các ngành công nghệ cao, đất hiếm còn tiềm ẩn rủi ro phóng xạ, hóa chất độc hại và gắn chặt với an ninh - quốc phòng nên yêu cầu siết chuẩn công nghệ, môi trường và quản lý ở tầm chiến lược quốc gia được đặt ra rất rõ.
Đại biểu Trịnh Thị Tú Anh (Đoàn Lâm Đồng) nhấn mạnh, đất hiếm là tài nguyên chiến lược của nhiều ngành then chốt như bán dẫn, xe điện, năng lượng tái tạo, quốc phòng… Vì vậy, luật phải đặt an toàn môi trường và sức khỏe cộng đồng lên hàng đầu, đồng thời bảo đảm quản lý thống nhất từ trung ương, tránh tình trạng manh mún, chạy theo lợi nhuận ngắn hạn.
Bà phân tích, quá trình tuyển tách và chế biến đất hiếm luôn phát sinh chất phóng xạ tự nhiên, kim loại nặng và dung dịch axit rất khó xử lý. Nhiều quốc gia từng khai thác ồ ạt mà thiếu kiểm soát đã để lại những “vùng chết” ô nhiễm phóng xạ tồn lưu hàng chục năm; chi phí phục hồi môi trường cao gấp nhiều lần giá trị kinh tế thu được từ mỏ. “Đây là bài học Việt Nam không thể lặp lại”, bà nhấn mạnh.
Từ kinh nghiệm quốc tế, đại biểu Tú Anh đề nghị luật phải quy định bắt buộc áp dụng công nghệ tuyển - tách khép kín, mô hình hóa phát tán phóng xạ, quan trắc môi trường tự động, liên tục và phương án xử lý bùn, chất thải đạt chuẩn quốc tế.
Cơ quan an toàn bức xạ và hạt nhân quốc gia cần tham gia giám sát độc lập toàn bộ quy trình từ đánh giá công nghệ, thẩm định rủi ro đến kiểm tra hiện trường và quản lý chất thải, không để doanh nghiệp “vừa đá bóng, vừa thổi còi”.
Đại biểu cũng lưu ý, đất hiếm có chu kỳ dự án dài, đòi hỏi thời gian thử nghiệm công nghệ và đánh giá tác động môi trường sâu, không thể làm vội vàng. Nếu thời hạn ưu tiên cho nhà đầu tư quá ngắn, doanh nghiệp dễ chọn phương án khai thác thô, xuất khẩu sơ chế để thu hồi vốn nhanh, bỏ qua đầu tư công nghệ chế biến sâu.
Luật cần cơ chế linh hoạt hơn về thời hạn, ưu đãi, lựa chọn nhà đầu tư để thu hút những đối tác thực sự có năng lực công nghệ, tài chính và cam kết lâu dài.
Đại biểu Đàng Thị Mỹ Hương (Đoàn Khánh Hòa) cho rằng dự thảo hiện vẫn thiếu các cơ chế đủ mạnh bảo đảm an toàn môi trường và xử lý chất thải phóng xạ, hóa học.
Bà đề nghị phải có đánh giá rủi ro môi trường độc lập bởi bên thứ ba; yêu cầu doanh nghiệp khai thác đất hiếm ký quỹ phục hồi môi trường ở mức cao hơn các mỏ khoáng sản thông thường; đồng thời công bố định kỳ dữ liệu môi trường để người dân, chính quyền địa phương và xã hội giám sát, hướng đến phát triển bền vững.
Từ góc độ an ninh - quốc phòng, đại biểu Trịnh Xuân An (Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại) nhấn mạnh, trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược ngày càng gay gắt, quản lý đất hiếm và làm chủ công nghệ đất hiếm là yếu tố then chốt để khẳng định năng lực tự cường của Việt Nam. Ông cho rằng đất hiếm chính là nền tảng cho nhiều công nghệ lõi, đặc biệt trong lĩnh vực vũ khí chính xác cao, nên cần được tiếp cận ngay từ trong luật dưới “lăng kính” an ninh - quốc phòng.
Dự thảo đã quy định khu vực dự trữ đất hiếm, nhưng theo ông An, cần thiết lập các mỏ hoặc khu dự trữ dành riêng cho mục đích quốc phòng, an ninh. Song song đó, luật phải bổ sung quy định về kiểm soát công nghệ và dữ liệu đất hiếm, nhất là dữ liệu liên quan tới bố trí trữ lượng, chất lượng quặng phục vụ quốc phòng vì “dữ liệu đất hiếm có thể thuộc diện bí mật Nhà nước”.
Vai trò của Bộ Quốc phòng trong thẩm định chương trình, thẩm định khai thác mỏ cũng như trong các chương trình quốc gia về đất hiếm cần được quy định rõ ràng, tránh bỏ trống “vùng trách nhiệm”.
Về tiềm năng và định hướng ngành, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Đức Thắng cho biết, Việt Nam hiện nằm trong nhóm quốc gia có trữ lượng đất hiếm lớn, đứng thứ hai hoặc thứ ba thế giới, phân bố tại 21 tỉnh, thành. Bộ đã cơ bản khoanh định các khu vực mỏ và tổ chức quản lý chặt chẽ, đồng thời phối hợp các bộ, ngành xây dựng chiến lược quốc gia về đất hiếm, dự kiến trình Chính phủ, Thủ tướng ban hành đầu năm 2026.
Theo Bộ trưởng, sau khi hoàn tất khoanh định mỏ, các chính sách khai thác, chế biến sâu sẽ được nghiên cứu, để đất hiếm thực sự trở thành nguồn lực quan trọng cho nền kinh tế, gắn với hình thành chuỗi giá trị khép kín trong nước và “hạn chế tối đa xuất khẩu thô”.
Dự kiến Quốc hội sẽ biểu quyết thông qua dự án luật này vào ngày 11/12.



